„Dementsprechend sollte auch der Begriff der Sprachbehinderung ausdifferenziert werden (vgl. auch Braun, 1999). Wir formulieren deshalb wie folgt: Als sprachbehindert gilt, wer durch eine Schädigung der an der Kontrolle und Ausführung von Sprache beteiligten Organe (zentrales Nervensystem, Artikulationsorgane) an einer langfristigen Störung oder Einschränkung im Spracherwerb bzw. im Handeln mit der gesprochenen und- geschriebenen Sprache leidet und von daher in seiner täglichen Lebensführung und in seinem sozialen und kommunikativen Umfeld Benachteiligungen in Kauf nehmen muß als auch in seiner seelisch-geistigen Entwicklung und Befindlichkeit Probleme hat oder empfindet, weil seine Teilhabe ("participation") am Leben der Gemeinschaft eingeschränkt ist.“
“Theo đó, khái niệm khuyết tật ngôn ngữ cũng cần được phân biệt rõ ràng hơn (xem thêm Braun, 1999). Do vậy, chúng tôi định nghĩa như sau: Được coi là khuyết tật ngôn ngữ là những người, do tổn thương các cơ quan tham gia vào việc kiểm soát và thực hiện ngôn ngữ (hệ thần kinh trung ương, cơ quan cấu âm), phải chịu một sự rối loạn hoặc hạn chế lâu dài trong việc tiếp thu ngôn ngữ hoặc trong hành động sử dụng ngôn ngữ nói và viết, và từ đó phải chấp nhận những bất lợi trong cuộc sống hàng ngày, trong môi trường xã hội và giao tiếp, cũng như gặp phải hoặc cảm thấy có vấn đề trong sự phát triển và tình trạng tinh thần-tâm lý, bởi vì sự tham gia (“participation”) của họ vào đời sống cộng đồng bị hạn chế.”