Chip aus Vietnam hilft blinden Menschen wieder zu sehen
Con chip từ Việt Nam giúp người mù nhìn thấy trở lại
この読解文はドイツ語学習者向けに翻訳・簡略化されています。原文の著作権はTia Sang - Ho So Nhan Vatに帰属します。
単語やフレーズを選択すると、検索・翻訳・ハイライト・メモができます。
読解の進捗
段落 1/18
まずドイツ語を読みましょう。必要に応じて各段落の下に翻訳を表示できます。
ベトナム語訳
"Vì chip được đặt vào cơ thể người nên gần như không được phép sai sót." Suốt 20 năm, TS. Trần Nhân theo đuổi một con chip dành cho mắt. Con chip này giúp người mù cảm nhận lại ánh sáng. Công việc đòi hỏi độ chính xác cực cao. Ranh giới giữa thành công và thất bại chỉ cách nhau vài nanomet.
ベトナム語訳
Gần đây, TS. Trần Nhân cùng nhóm của mình đã thử nghiệm lâm sàng. Họ cấy một con chip nhỏ 3x3 mm vào võng mạc của một bệnh nhân mù người Trung Quốc. Thiết bị đánh thức số ít tế bào còn sống trong võng mạc. Đó là các tế bào hạch võng mạc. Chip kích thích nhóm tế bào này. Chúng nhận tín hiệu hình ảnh từ camera gắn trên kính rồi truyền về não. Sau đó, bệnh nhân có thể tự đọc, viết và đi lại. TS. Trần Nhân chia sẻ về quá trình nghiên cứu với tạp chí Tia Sáng. Ông phải kiểm tra hàng trăm biến số. Nhiều ngành cùng phối hợp: vật lý vi mạch, hóa sinh trong cơ thể người, truyền năng lượng và dữ liệu không dây, vi cơ khí, điều khiển và thuật toán AI.
ベトナム語訳
Vô số vấn đề mới nảy sinh
ベトナム語訳
Câu hỏi: Giới kỹ sư trong ngành chip vẫn nói: không được sai sót, dù chỉ ở cấp độ nguyên tử. Anh làm chip võng mạc để người mù nhìn lại được, yêu cầu còn khắt khe hơn. Anh ấp ủ con chip này từ năm 2008. Đã có lúc nào khó khăn đến mức không được phép sai chưa?
ベトナム語訳
Trả lời: Đến phút cuối tôi vẫn rất căng thẳng. Trong 20 năm, tôi không kể với gia đình hay đồng nghiệp trong ngành chip. Họ sẽ nghĩ đây là ý tưởng vui vui, viển vông như phim khoa học viễn tưởng. Thời đó và cả bây giờ, mọi người đều cho rằng con chip này chỉ là tưởng tượng. Ngay cả tôi lúc đầu cũng không biết khi nào mới có thể cấy chip vào mắt người thật.
ベトナム語訳
Tôi bắt đầu nghiên cứu và thiết kế chip từ năm 2008, khi còn là nghiên cứu sinh. Ban đầu chip có 64 điện cực, sau tăng lên 256 điện cực. Điện cực giống như những "chân" nhỏ của chip. Chúng chạm vào số ít tế bào hạch còn sống trong võng mạc và đánh thức chúng. Từ năm 2014, tôi làm chip 65 nanomet với 320 điện cực. Tôi mất hai năm cho con chip võng mạc đầu tiên. Rồi mất thêm hai năm nữa cho con chip thứ hai. Con chip thứ hai truyền năng lượng và dữ liệu không cần dây dẫn.
ベトナム語訳
Sau này, chúng tôi cấy hai con chip ở hai vị trí khác nhau: chip số 1 nằm trong võng mạc và kích thích tế bào tại đó. Chip số 2 nằm ở mống mắt. Nó nhận năng lượng từ cuộn dây trên gọng kính. Cuộn dây nối với một thiết bị nhỏ bệnh nhân đeo trên người. Sau đó chip này truyền dữ liệu không dây. Nhờ vậy, nó kết nối chip số 1 với bộ xử lý hình ảnh từ camera trên kính.
ベトナム語訳
Thiết kế chip chưa phải phần khó nhất. Xây dựng hệ thống xung quanh chip và đóng gói chip còn khó hơn. Lại không có nơi nào để học hỏi. Trên thế giới chỉ có vài nhóm theo hướng này: Second Sight (Argus II), Science Corp. (PRIMA), Retina Implant AG (Alpha IMS/AMS) và sau này là Neuralink (Blindsight). Mỗi nhóm đều phải giữ bí mật công nghệ. Hơn nữa, thời điểm đó họ cũng ở mức như tôi. Tức là họ cũng chưa thể đưa chip vào thử nghiệm lâm sàng.
ベトナム語訳

ベトナム語訳
TS. Trần Nhân trong phòng thí nghiệm. Ảnh: NVCC
ベトナム語訳
Ví dụ: 320 điện cực tức là 320 "chân" nhỏ của chip. Con chip chỉ bé bằng hạt gạo và tiếp xúc trực tiếp với mô trong mắt. Nó nhỏ đến mức một công ty ở Nhật cũng không làm được. Vì vậy tôi tự huy động kinh phí và dựng xưởng. Tôi mua máy móc, thiết bị, xây phòng sạch và tuyển người để tự sản xuất chip. Nhiều thứ bị hỏng phải sửa. Nhiều sản phẩm lỗi. Không phải làm một lần là xong.
ベトナム語訳
Sau đó còn một khó khăn lớn hơn: phải bảo vệ con chip. Chúng tôi đặt nó vào một hộp kính rất nhỏ và rất mỏng rồi hàn kín lại. Mối hàn cực mảnh, chỉ bằng một phần nhỏ sợi tóc. Vì quá mảnh nên mối hàn không bền. Lúc thì thủng chỗ này, lúc lại hở chỗ kia. Việc này rất khó. Chúng tôi phải tiếp tục nghiên cứu vật liệu kính và kỹ thuật hàn.
ベトナム語訳
Rồi lại phát sinh vấn đề tiếp theo: kính cứng và có góc cạnh sắc. Làm sao đặt được vào mắt bệnh nhân? Chúng tôi cần thêm một lớp bảo vệ. Lớp silicone phải thật mỏng, thật bền và thật mềm. Nó nằm trong mắt nên không được làm tổn thương mô. Không ai sản xuất khuôn cho lớp silicone này. Vì thế chúng tôi phải tự làm khuôn và tự đổ. Rồi lại gặp trục trặc về vật liệu: silicone quá cứng hoặc quá lỏng. Chúng tôi lại phải nghiên cứu để khắc phục. Cứ như vậy, suốt nhiều năm liên tục xuất hiện vấn đề và nhiệm vụ mới.
ベトナム語訳
Câu hỏi: Bên cạnh những tính toán kỹ thuật rất chính xác về vi mạch, năng lượng, vật liệu, vi cơ khí, điều khiển và AI trên một con chip, y sinh lại là một lĩnh vực hoàn toàn khác và rất phức tạp. Đó vốn không phải chuyên ngành chính của anh?
ベトナム語訳
Trả lời: May mắn là tôi được nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thần kinh thuộc Đại học Melbourne, Úc. Ngay từ đầu, tôi đã hợp tác với các chuyên gia của Viện Tai Bionics (nay là Viện Bionics). Vì vậy tôi nghiên cứu cơ chế của chip dành cho tai, giúp bệnh nhân điếc.
ベトナム語訳
Nói đơn giản: chúng tôi phải chuyển tín hiệu từ máy thành kích thích mà não hiểu được. Cơ chế như sau: thông tin từ camera đi qua thiết bị xử lý dữ liệu mà bệnh nhân đeo trên người. Sau đó, thông tin được truyền không dây tới hai con chip trong mắt. Từ đó, chip kích thích tế bào võng mạc. Các tế bào này đưa tín hiệu tới dây thần kinh thị giác. Não nhận tín hiệu và tạo thành hình ảnh.
ベトナム語訳
Vì vậy, cả não và mắt đều phải làm quen với những kích thích nhân tạo này. Về xử lý hình ảnh: thuật toán sẽ xử lý bức ảnh và biến nó thành xung điện. Các tín hiệu điện này chạy tới chip và kích thích tế bào võng mạc.
ベトナム語訳
Nhưng giữa hệ thống điện tử và hệ thần kinh vẫn còn nhiều trở ngại lớn. Ví dụ: chúng tôi phải đưa dữ liệu vào mắt, nhưng chip không thể mang pin. Chúng tôi cũng không thể luồn dây dài sâu vào võng mạc. Dây sẽ chồng chéo và gây chập mạch. Ngoài ra, khối dây dày có thể làm tổn thương võng mạc khi đặt vào mô. Vậy năng lượng cho chip lấy từ đâu? Làm sao truyền dữ liệu và cấp điện cho chip?

