Amerikas Zollsturm ist vielleicht noch nicht vorbei
Cơn bão thuế quan của Mỹ có thể chưa kết thúc
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Nen Tang Kien Tao.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/21
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Bản dịch tiếng Việt
Sau các mức thuế đối ứng và Mục 301, kinh nghiệm cho thấy: Mỹ vẫn có thể dựng lên những rào cản thương mại khác, mạnh hơn, để chống lại việc thị phần hàng hóa Việt Nam tại Mỹ tăng nhanh trong những năm gần đây.
Bản dịch tiếng Việt
Có thể hình dung các công cụ mà Mỹ dùng để áp thuế nhập khẩu như một kim tự tháp. Các tầng gần đáy thì mạnh hơn và khó thay đổi hơn.
Bản dịch tiếng Việt
Ở bậc trên cùng là những công cụ mạnh, tác động nhanh, nhưng cũng dễ sụp đổ nhất. “Thuế đối ứng” theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) nằm ở đây: Chỉ một phán quyết duy nhất của Tòa án Tối cao đã khiến nó vô hiệu.
Bản dịch tiếng Việt
Ngay bên dưới là mức thuế bổ sung tạm thời vì cán cân thanh toán (balance of payments), áp thuế hoặc phụ thu lên hàng nhập khẩu khi người ta cho rằng Mỹ đang gặp vấn đề nghiêm trọng về cán cân thanh toán, theo Mục 122. Công cụ này từng được dùng thay cho IEEPA, nhưng như chúng ta đã thấy: Nó bị giới hạn ở mức 15%, kéo dài tối đa 150 ngày, từng bị tòa án tuyên bố là bất hợp pháp một lần, và sẽ hết hạn ngay trong tháng 7 này.
Bản dịch tiếng Việt
Những mối đe dọa khó gỡ nằm ở các bậc dưới
Bản dịch tiếng Việt
Mục 301 áp thuế để đáp trả các hoạt động thương mại mà Washington cho là “không công bằng”. Đây là cơ sở pháp lý của cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Mục này không có giới hạn trần và phải được gia hạn bốn năm một lần nếu ngành công nghiệp trong nước nộp đơn. Nhưng nó cần quyết định chính thức của tổng thống, có thể bị khiếu kiện ra tòa, và có thể bị chính quyền kế tiếp hủy bỏ.
Bản dịch tiếng Việt
Sâu hơn nữa là Mục 232: Đánh thuế một mặt hàng nhập khẩu bị coi là đe dọa an ninh quốc gia. Điều này rất ổn định, nhưng chỉ giới hạn ở một số ngành như thép và ô tô.
Bản dịch tiếng Việt
Và ở đáy của bậc thang – tầng cứng đầu nhất – là một công cụ mà gần đây ít ai nghĩ tới: thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng (AD/CVD). Đây là mối đe dọa ổn định nhất trong tất cả các rào cản.
Bản dịch tiếng Việt

Bản dịch tiếng Việt
Container hàng hóa tại cảng Cát Lái chiều 4/2. Ảnh: Thanh Tùng
Bản dịch tiếng Việt
Vậy, xét về phạm vi trước mắt, Mục 301 là mối đe dọa lớn nhất. Tính đến thời điểm bài viết này, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đang đồng thời tiến hành ba cuộc điều tra theo Mục 301: một về “năng lực dư thừa mang tính cơ cấu”, một về lao động cưỡng bức, và một về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Việt Nam đã trao đổi kỹ lưỡng và đề nghị Mỹ sớm kết thúc cuộc điều tra.
Bản dịch tiếng Việt
Mặc dù USTR gần đây đã tuyên bố áp thuế nhập khẩu mới, công cụ này chỉ thuộc quyền của tổng thống, phụ thuộc vào quyết định chính trị, và có thể bị loại bỏ thông qua bầu cử hoặc kiện tụng.
Bản dịch tiếng Việt
Sự khác biệt về độ ổn định giữa các bậc không phải ngẫu nhiên – nó phản ánh bản chất của sự ủy quyền pháp lý đằng sau mỗi công cụ. IEEPA, Mục 122, Mục 301 và Mục 232 đều là những ủy quyền hẹp, được tạo ra cho các mục đích cụ thể: khẩn cấp tài chính, thâm hụt ngắn hạn, hoạt động thương mại không công bằng, an ninh quốc gia theo ngành. Khi chúng được dùng cho thuế quan rộng rãi, tòa án có thể xem xét, quốc hội có thể giới hạn, hoặc chính quyền kế tiếp có thể đảo ngược.
Bản dịch tiếng Việt
Thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng giữ được lâu hơn, vì quốc hội đã quy định rõ thiệt hại, tiêu chuẩn và quy trình, đồng thời trao quyền cho các cơ quan chuyên trách – luật được áp dụng đúng như thiết kế, không có gì bị kéo giãn, và vì thế khó bị đảo ngược.
Bản dịch tiếng Việt
“Chủ nghĩa bảo hộ mới”
Bản dịch tiếng Việt
Trong năm mươi năm sau 1947, Mỹ liên tục đàm phán cắt giảm thuế quan – tám vòng GATT đã đưa mức thuế trung bình của Mỹ từ mức cao của những năm 1930 xuống mức một con số thấp. Nhưng nhu cầu bảo hộ không biến mất, mà đã chuyển sang các công cụ khác, khó đàm phán hơn.
Bản dịch tiếng Việt
Vào những năm 1980, giáo sư kinh tế Jagdish Bhagwati gọi thuế chống bán phá giá là “chủ nghĩa bảo hộ mới”, và giáo sư Michael Finger đã chỉ ra cách một hệ thống gọi là “thương mại công bằng” trở thành công cụ yêu thích của chủ nghĩa bảo hộ cũ: Nó được vận hành bởi các cơ quan hành chính, không dựng lên rào cản thuế quan, mà dùng điều tra và thủ tục pháp lý để hạn chế nhập khẩu.
Bản dịch tiếng Việt
Các mục tiêu tuân theo cùng một logic trong mọi thời kỳ. Khi xuất khẩu của Nhật Bản bùng nổ vào những năm 1980, sự bảo hộ xuất hiện dưới dạng các vụ kiện về thép và chất bán dẫn, cùng các hạn chế xuất khẩu “tự nguyện”. Khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, nước này nhanh chóng trở thành mục tiêu thường xuyên nhất của thuế chống bán phá giá Mỹ – với phương pháp gán nhãn “phi thị trường” (NME), một di sản từ Chiến tranh Lạnh, vốn dành cho khối Liên Xô, nhưng giờ lại nhắm vào chính Trung Quốc.
Bản dịch tiếng Việt
Kinh nghiệm từ Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy: Khi một nền kinh tế tăng thị phần tại Mỹ, các biện pháp bảo hộ thương mại thường trở nên thường xuyên hơn. Việt Nam có mức tăng thị phần nhập khẩu nhanh nhất vào Mỹ trong thập kỷ qua, vì vậy nước này nên lưu ý thực tế đó, đặc biệt là phương pháp NME mà Mỹ từng sử dụng. Giờ không còn lá chắn thuế quan lớn nào, điều có thể xảy ra không phải là dự đoán mới, mà là một kịch bản đã từng xảy ra.
Bản dịch tiếng Việt
“Thuế quan” đối với nền kinh tế phi thị trường
Bản dịch tiếng Việt
Vì Washington không công nhận rằng giá cả tại Việt Nam phản ánh thị trường, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) sẽ không dùng chi phí thực tế của doanh nghiệp Việt Nam để tính toán có “bán phá giá” hay không. Thay vào đó, họ tái tạo chi phí của Việt Nam dựa trên giá của một “nước thay thế” (surrogate country) do họ tự chọn – có thể là Ấn Độ, Indonesia, Philippines hoặc


