US-China-Handelskrieg und seine Auswirkungen auf den vietnamesischen Arbeitsmarkt
Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và tác động đến thị trường lao động Việt Nam
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Van Hoa Xa Hoi.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/21
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Bản dịch tiếng Việt
Một nghiên cứu mới cho thấy chiến tranh thương mại Mỹ-Trung giai đoạn 2018-2019 đã làm tăng việc làm, cải thiện tiền lương và thúc đẩy nhu cầu lao động tại nhiều khu vực ở Việt Nam.
Bản dịch tiếng Việt
Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung bắt đầu từ năm 2018, đánh dấu sự trở lại mạnh mẽ của chủ nghĩa bảo hộ sau nhiều thập kỷ các nước tìm cách dỡ bỏ rào cản thương mại. Cú sốc thương mại này lớn, lan rộng và ảnh hưởng đến nhiều ngành. Nó không chỉ tác động đến Mỹ và Trung Quốc mà còn đến các nước khác, vì Mỹ có thể chuyển hướng nhập khẩu từ Trung Quốc sang các nước khác.
Bản dịch tiếng Việt
Các nhà nghiên cứu từ Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, Viện Chiến lược Phát triển (Việt Nam), Đại học Johannes Kepler Linz (Áo) và Đại học Trinity College Dublin (Ireland) đã cùng thực hiện nghiên cứu này. Kết quả được công bố trên tạp chí European Economic Review.
Bản dịch tiếng Việt
Nhóm nghiên cứu sử dụng dữ liệu về việc làm, tiền lương và giờ làm của người lao động từ cuộc điều tra lao động Việt Nam giai đoạn 2017-2019. Họ cũng dùng dữ liệu về hàng hóa bị Mỹ áp thuế (2018-2019) và dữ liệu về xuất nhập khẩu của doanh nghiệp từ cuộc điều tra doanh nghiệp Việt Nam (2014-2015).
Bản dịch tiếng Việt
Với những dữ liệu này, các nhà nghiên cứu áp dụng phương pháp sai phân kép, công cụ Bartik và tính toán "mức độ phơi nhiễm với chiến tranh thương mại" cho từng huyện tại Việt Nam. Chỉ số này dựa trên việc Mỹ tăng thuế với hàng Trung Quốc và cơ cấu việc làm tại mỗi huyện trước chiến tranh thương mại.
Bản dịch tiếng Việt
Các huyện có nhiều lao động trong những ngành mà hàng Trung Quốc bị đánh thuế nặng thì chịu ảnh hưởng lớn hơn. Ngược lại, các huyện có ngành ít liên quan đến những mặt hàng này thì mức độ phơi nhiễm thấp hơn.
Bản dịch tiếng Việt
Thúc đẩy việc làm chính thức và tiền lương
Bản dịch tiếng Việt
Kết quả cho thấy chiến tranh thương mại đã tạo ra nhiều thay đổi tích cực trên thị trường lao động Việt Nam. Tại những vùng có mức độ phơi nhiễm cao, người lao động có khả năng có việc làm chính thức (có hợp đồng lao động) và mức lương cao hơn.
Bản dịch tiếng Việt
Cụ thể, ở cấp độ cá nhân, người lao động tại các huyện có mức độ phơi nhiễm cao có xác suất làm việc trong các ngành liên quan đến thương mại cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với người lao động ở huyện có mức độ phơi nhiễm thấp. Ở cấp độ huyện, chênh lệch là 0,6 điểm phần trăm.
Bản dịch tiếng Việt
Tỷ lệ lao động không có hợp đồng giảm khoảng 0,2 điểm phần trăm, cho thấy chiến tranh thương mại đã góp phần chính thức hóa việc làm.
Bản dịch tiếng Việt
Tại các huyện có mức độ phơi nhiễm cao, người lao động trong các ngành tham gia thương mại quốc tế có mức lương thực tế theo giờ cao hơn 1% so với huyện có mức độ phơi nhiễm thấp. Thời gian làm việc trung bình cũng tăng 1%, phản ánh nhu cầu lao động tăng để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu được chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam.
Bản dịch tiếng Việt
Khác biệt theo nghề nghiệp và nhóm
Bản dịch tiếng Việt
Tuy nhiên, lợi ích từ việc chuyển hướng thương mại này được phân bổ không đồng đều: theo nghề nghiệp, ngành nghề và giới tính.
Bản dịch tiếng Việt
Khi phân tích theo giới tính, nam giới có lợi thế rõ rệt hơn về việc làm và tiền lương. Đối với phụ nữ, tác động nổi bật nhất là giảm việc làm phi chính thức và tăng thời gian làm việc.
Bản dịch tiếng Việt
Cũng có sự khác biệt giữa nhân viên văn phòng và công nhân. Tác động tích cực đến việc làm và tiền lương chủ yếu xảy ra ở nhóm công nhân sản xuất trực tiếp. Nhóm này cũng có mức giảm việc làm phi chính thức lớn hơn và mức tăng giờ làm cao hơn.
Bản dịch tiếng Việt
Các nhà nghiên cứu giải thích: Trước chiến tranh thương mại, phụ nữ và công nhân có ít giờ làm hơn, thường làm bán thời gian hoặc phi chính thức. Khi nhu cầu xuất khẩu từ Mỹ tăng đột biến, các nhóm này thường chuyển sang làm việc chính thức trong các nhà máy. Do đó, những thay đổi trong nghiên cứu rõ rệt hơn.
Bản dịch tiếng Việt
Xét theo ngành, việc làm tăng mạnh nhất trong sản xuất máy tính, sản phẩm điện tử, thiết bị điện và ô tô. Ngành dệt may ghi nhận tác động tiêu cực đến việc làm trong giai đoạn này.
Bản dịch tiếng Việt
Cũng có sự khác biệt giữa các ngành tham gia thương mại quốc tế và các ngành ít hoặc không tham gia. Trong các ngành tham gia thương mại quốc tế như điện tử, xác suất có việc làm cao hơn 0,6 điểm phần trăm và tỷ lệ việc làm phi chính thức thấp hơn 0,3 điểm phần trăm ở những vùng có mức độ phơi nhiễm cao so với vùng có mức độ phơi nhiễm thấp. Trong các ngành ít hoặc không tham gia thương mại quốc tế như dịch vụ hay bất động sản, sự khác biệt giữa các vùng là không đáng kể.
Bản dịch tiếng Việt
Những kết quả này cho thấy chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã tác động đến thị trường lao động Việt Nam thông qua việc chuyển hướng thương mại. Trong ngắn hạn, Việt Nam đã tận dụng cơ hội thay thế một phần hàng Trung Quốc trên thị trường Mỹ nhờ lợi thế so sánh tương tự trong các ngành thâm dụng lao động.
Bản dịch tiếng Việt
Về dài hạn, Việt Nam có thể thay đổi cơ cấu sản xuất, ví dụ chuyển sang các ngành phức tạp hơn như máy tính, để thích ứng với chiến tranh thương mại và thúc đẩy nền kinh tế.
Bản dịch tiếng Việt
"Những tác động ngắn hạn mà chúng tôi ước tính có thể khác với tác động dài hạn, ví dụ do giới hạn về năng lực sản xuất hoặc các quá trình điều chỉnh tiếp theo của nền kinh tế, như sự gia tăng..."


