Die V-2 Rakete und der Beginn des Wettlaufs ins All
Tên lửa V-2 và khởi đầu cuộc đua vào vũ trụ
この読解文はドイツ語学習者向けに翻訳・簡略化されています。原文の著作権はTia Sang - Ho So Nhan Vatに帰属します。
単語やフレーズを選択すると、検索・翻訳・ハイライト・メモができます。
読解の進捗
段落 1/22
まずドイツ語を読みましょう。必要に応じて各段落の下に翻訳を表示できます。
ベトナム語訳
Ngay sau khi Thế chiến II khép lại, Mỹ và Liên Xô bước vào cuộc chạy đua phát triển tên lửa cho mục đích quốc phòng. Chẳng bao lâu, cuộc đua này đã trở thành màn cạnh tranh quyết liệt giữa hai siêu cường trong lĩnh vực khám phá không gian.
ベトナム語訳
ベトナム語訳
Kỷ nguyên không gian không thể mở ra nếu thiếu tên lửa. Chỉ sức đẩy cực mạnh của động cơ tên lửa mới biến giấc mơ thành hiện thực: đưa con người và tàu vũ trụ bay vào không gian vô tận.
ベトナム語訳
Bài học từ tên lửa chiến lợi phẩm V-2
ベトナム語訳
Tháng 4/1945, binh lính phe Đồng minh tiến vào vùng núi Harz ở miền trung nước Đức. Trong những đường hầm lạnh lẽo và ẩm ướt của nhà máy Mittelwerk, họ tìm thấy các bộ phận của V-2 nằm ngổn ngang khắp nơi: động cơ dùng nhiên liệu lỏng, thùng chứa oxy lỏng, hệ thống dẫn đường, thân tên lửa và rất nhiều chi tiết kỹ thuật khác. Không lâu trước đó, những bộ phận này vẫn còn là bí mật quân sự của Đức Quốc xã.
ベトナム語訳
V-2 là viết tắt của Vergeltungswaffe 2, nghĩa là Vũ khí báo thù 2. Tên kỹ thuật của nó là A-4 hay Aggregat 4. Đây là tên lửa đạn đạo tầm xa đầu tiên trên thế giới. Nó dùng động cơ nhiên liệu lỏng, có thể mang đầu đạn nổ và bay theo quỹ đạo đạn đạo tới mục tiêu. Đức Quốc xã đã cưỡng bức tù nhân trong các trại tập trung lao động trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt để chế tạo loại vũ khí này. Họ phải đào nhà máy sâu trong lòng núi, vận chuyển vật liệu và linh kiện rồi lắp ráp tên lửa.
ベトナム語訳

ベトナム語訳
Khoảnh khắc tên lửa V-2 rời bệ phóng số 7 ở Peenemünde, Đức, ngày 3/10/1942. Đó là chuyến bay thành công đầu tiên trong lịch sử. Tên lửa đạt độ cao 84,5 km. Ảnh: German Federal Archives/Cygni_18; CC BY-SA
ベトナム語訳
Với Mỹ và Liên Xô, tên lửa V-2 thu được chính là lời giải cho một bài toán hóc búa. Cả hai nước đều muốn chế tạo một loại tên lửa bay xa hơn pháo binh, bay cao hơn máy bay và nhanh tới mức gần như không thể đánh chặn. Trong Thế chiến II, Đức Quốc xã đã bắn gần 3.000 quả V-2 vào các mục tiêu của Đồng minh, như London ở Anh và Antwerpen ở Bỉ.
ベトナム語訳
Sau chiến tranh, chính thứ vũ khí từng gây khiếp sợ này lại trở thành cuốn sách giáo khoa đầu tiên cho thời đại tên lửa hiện đại.
ベトナム語訳
V-2 có thân hình tròn, thon dần về phía đuôi. Ở cuối thân là bốn cánh hình chữ nhật bị vát góc. Đầu tên lửa nhọn, có dạng chóp nhọn ogive và kết thúc bằng một mũi sắc. Việc vát góc cánh có lý do riêng: nhờ đó có thể vận chuyển tên lửa quân sự này qua các đường hầm đường sắt tiêu chuẩn ở châu Âu.
ベトナム語訳
Khi hoạt động, V-2 dùng oxy lỏng và hỗn hợp nhiên liệu gồm 75% cồn và 25% nước. Nước giúp làm mát động cơ, bởi nhiệt độ trong buồng đốt có thể lên tới khoảng 2.700 độ C.
ベトナム語訳
V-2 chủ yếu được chế tạo từ những tấm thép mỏng. Các tấm thép được nối với nhau bằng mối hàn và đinh tán, một số chỗ được gia cố thêm bằng khung gỗ. Trên đỉnh là ngòi nổ. Nó kích hoạt khối thuốc nổ Amatol nặng khoảng 750 kg khi tên lửa chạm mục tiêu. Ngay dưới đầu đạn là khoang thiết bị. Khoang này chia làm bốn phần chứa các hệ thống dẫn đường, điều khiển, vô tuyến và điện.
ベトナム語訳

ベトナム語訳
Những ngôi nhà đổ nát ở Whitechapel, London, sau đòn tấn công của quả V-2 áp chót đánh vào thành phố cuối tháng 3/1945; vụ nổ khiến 134 người thiệt mạng. Quả V-2 cuối cùng rơi xuống London vào cuối ngày hôm đó tại Orpington, làm một người chết. Ảnh: Wikipedia
ベトナム語訳
Chiến dịch của Mỹ nhằm đưa các kỹ sư V-2 về nước
ベトナム語訳
Khi Đức bắn V-2 xuống một châu Âu tan hoang, trên bàn làm việc của người Mỹ mới chỉ có những bản phác thảo tên lửa tầm xa. Lúc chiến tranh kết thúc năm 1945, Mỹ có tên lửa WAC Corporal. Nó cho thấy trình độ kỹ thuật tên lửa của Mỹ lúc bấy giờ. Đây là một tên lửa nhỏ dùng nhiên liệu lỏng do Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (JPL) phát triển cho Lục quân Mỹ. Về sau, người ta thường dùng nó cho những chuyến bay ngắn dưới quỹ đạo để phục vụ nghiên cứu khoa học.
ベトナム語訳
WAC Corporal dùng thêm một tầng đẩy phụ chạy bằng nhiên liệu rắn để rời bệ phóng. Quả WAC đầu tiên được phóng tại bãi thử White Sands ở bang New Mexico vào tháng 10/1945. Nó đạt độ cao khoảng 45 dặm (75 km). Các phiên bản cải tiến sau này lên tới 60 dặm (100 km).
ベトナム語訳
Sau Thế chiến II, Mỹ triển khai một kế hoạch bí mật mang tên Chiến dịch Paperclip. Hơn 1.600 nhà khoa học, kỹ sư và kỹ thuật viên người Đức sang Mỹ làm việc cho chính phủ Mỹ. Bên cạnh nhiều ứng dụng khoa học và kỹ thuật khác, Chiến dịch Paperclip giúp Mỹ tiếp cận chương trình V-2. Nhờ đó, Mỹ không chỉ thu được tên lửa V-2 mà còn có cả đội ngũ kỹ sư đã chế tạo ra chúng.
ベトナム語訳

ベトナム語訳
Binh lính Mỹ ở lối vào nhà máy Mittelwerk sau khi tiếp quản. Trước đây Đức Quốc xã từng sản xuất tên lửa V-2 tại đây. Ảnh: U.S. Air Force photo
ベトナム語訳
Một kỹ sư tên lửa người Đức, được hai sử gia Frederick Ordway và Mitchell R. Sharpe trích dẫn trong cuốn The Rocket Team (Đội tên lửa), đã thẳng thắn cân nhắc lựa chọn của mình vào tháng 4/1945: "Chúng tôi khinh người Pháp, sợ người Liên Xô và không tin người Anh có đủ tiền để trả cho chúng tôi. Vì vậy lựa chọn là ..."
