Wie haben Vietnamesen früher „ich“ gesagt?
Người Việt xưa xưng “tôi” như thế nào?
この読解文はドイツ語学習者向けに翻訳・簡略化されています。原文の著作権はTia Sang - Van Hoa Xa Hoiに帰属します。
単語やフレーズを選択すると、検索・翻訳・ハイライト・メモができます。
読解の進捗
段落 1/23
まずドイツ語を読みましょう。必要に応じて各段落の下に翻訳を表示できます。
ベトナム語訳
Mở đầu
ベトナム語訳
Nhiều người Việt ngày nay không còn biết cách xưng hô xưa. Nhưng đó không phải là lý do để cứ lấy lời thoại trong phim cổ trang Trung Quốc ra dùng.
ベトナム語訳
Gần đây tác giả có xem vài bộ phim cổ trang Việt Nam. Phục trang, lễ nghi hay lịch sử là một chuyện. Ở đây chỉ bàn về lời thoại. Nhiều lúc thoại nghe không ổn. Nhân vật lịch sử nói năng như người hiện đại. Hoặc thoại cố làm ra vẻ cổ xưa nhưng lại bê nguyên từ ngữ của phim cổ trang Trung Quốc.
ベトナム語訳
Vì sao lại như vậy? Trong nhiều chục năm qua, khán giả Việt đã xem rất nhiều phim cổ trang Trung Quốc. Vì thế những từ như “huynh”, “muội”, “đại nhân”, “tiểu nhân”, “tại hạ”, “bổn cung”, “ai gia”, “khải bẩm” trở nên vô cùng quen thuộc. Những từ này dần thành một tín hiệu. Chỉ cần nhân vật nói như thế, người xem liền nghĩ ngay: ngày xưa người ta nói năng như vậy.
ベトナム語訳
Có thể nói phim ảnh đã tạo ra một thứ “tiếng xưa trong tưởng tượng”. Nhưng cách xưng hô kiểu phim đó chưa chắc đã đúng với người Việt xưa. Thậm chí với người Trung Quốc xưa cũng chưa hẳn đúng. Tiếng Việt cổ thực ra rất lạ lẫm so với cảm nhận của chúng ta hôm nay. Chỉ riêng cách xưng “tôi” đã thấy rõ điều đó.
ベトナム語訳
“Tôi” ngày xưa không giống “tôi” bây giờ
ベトナム語訳
Hình: Người Việt xưa xưng hô với nhau như thế này. Tranh vẽ chúa Nguyễn và các quan lại. Tranh dựa theo sách Chu an thuyền hội quyển từ năm một nghìn sáu trăm lẻ chín.
ベトナム語訳
Ngày nay “tôi” là từ xưng rất bình thường cho ngôi thứ nhất. Lịch sự và trung tính.
ベトナム語訳
Nhưng khoảng một trăm năm trước, “tôi” trước hết là một danh từ. Nó có nghĩa là người hầu hay kẻ dưới. Sau đó nó mới trở thành đại từ xưng “tôi”, khi người nói muốn tự hạ mình trước người đối diện. Từ điển Việt - Bồ - La năm một nghìn sáu trăm năm mươi mốt giải thích: “Tôi: người hầu, người làm trong nhà, kẻ dưới.” Và ở chỗ khác: “Tôi: lời lẽ khiêm nhường. Tôi lạy ông: Tôi kính lạy ông.” Nghĩa này khác hẳn với “tôi” trung tính bây giờ.
ベトナム語訳
Những văn bản từ thế kỷ mười bảy cũng cho thấy như vậy. Khi nói với bậc trên, người Việt có thể dùng “tôi” để tự xưng. Linh mục Marini sống ở Đàng Ngoài từ năm một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đến năm một nghìn sáu trăm năm mươi tám đã ghi lại những cách nói trong cung như “Tôi tâu Đức vua”, “Tôi dộng Chúa”, “Tôi thân Đức ông”, “Tôi chiềng”.
ベトナム語訳
Sang thế kỷ mười tám, Đỗ Thế Giai, sống từ năm một nghìn bảy trăm lẻ chín đến năm một nghìn bảy trăm sáu mươi sáu, trong thư gửi vua Lê và chúa Trịnh vẫn viết: “Tôi cẩn khải vâng lạy Đức bề trên”.
ベトナム語訳
Đầu thế kỷ mười chín, Lê Chất, sống từ năm một nghìn bảy trăm sáu mươi chín đến năm một nghìn tám trăm hai mươi sáu, viết một văn bản chữ Nôm dâng lên vua Gia Long. Ông viết: “Tấu vái Đức hoàng thượng muôn muôn năm cao minh ngự lãm”. Cuối văn bản ông viết: “Chúng tôi thật lo thật sợ cúi vái. Đức hoàng thượng muôn muôn năm. Ngày mười, tháng mười hai, năm Gia Long thứ mười sáu, tức năm một nghìn tám trăm mười bảy. Bầy tôi Lê Tông Chất kính cẩn thưa.”
ベトナム語訳
Như vậy “tôi” đã thay đổi rất nhiều: ban đầu là danh từ chỉ địa vị thấp, rồi thành cách tự xưng khiêm nhường, và nay là đại từ lịch sự, trung tính. Nếu không biết điều này, chúng ta rất dễ gán cách xưng hô hôm nay cho người xưa.
ベトナム語訳
Vua tự xưng là “tao”
ベトナム語訳
Ngày nay có những từ nghe rất sống sượng, thậm chí thô. Nhưng xưa kia chúng không gây cảm giác như bây giờ.
ベトナム語訳
Trong từ điển Việt - Bồ - La năm một nghìn sáu trăm năm mươi mốt, Alexandre de Rhodes phân biệt rất rõ: “Ta” là cách người trên nói với người dưới nhưng người dưới ấy vẫn được kính trọng. “Tao” là cách người trên nói với người có địa vị rất thấp, ví như cha với con hay người quyền thế với dân thường.
ベトナム語訳
Vì thế trong sách Thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên, viết vào cuối thế kỷ mười bảy đầu thế kỷ mười tám, ta bắt gặp những câu của Phật hoàng Trần Nhân Tông nói với bề tôi. Chẳng hạn: “Thị tòng bay đi cùng tao, thăm xem dân thế dường nào cho hay!” Hay: “Bay! Lòng tao thuở này muốn tới Ngọa Vân.” Và cả: “Gọi lấy Bảo Sát cho tao...” rồi “Pháp Loa tao đã truyền lòng...”
ベトナム語訳
Vua có thể tự xưng “tao” và gọi bề tôi là “bay”. Nếu bê nguyên những câu này lên phim cổ trang ngày nay, nhiều khán giả sẽ thấy khó chịu: sao Phật hoàng lại nói năng thô như vậy? Nhưng phản ứng đó cho thấy một vấn đề thú vị: cảm nhận ngôn ngữ của chúng ta thuộc về thế kỷ hai mươi mốt, chứ không phải thế kỷ mười bảy, càng không phải thế kỷ mười ba. Từ thì vẫn còn đó, nhưng quan hệ xã hội và sắc thái tình cảm đằng sau từ đã đổi khác.
ベトナム語訳
Những cách xưng hô lạ lẫm
ベトナム語訳
Thế giới đại từ xưng hô ngày xưa còn phong phú và lạ hơn nhiều.
ベトナム語訳
Người Việt xưa đặt “phô” trước danh từ hay đại từ để chỉ số nhiều. Nó tương tự như “các”, “chúng” hay “bọn” ngày nay. Ví dụ:
ベトナム語訳
- "Phô người học đạo" - những người học đạo. Trích Thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên.
- "Phô ngươi" - các ngươi. Trích Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của.
- "Nhắn nhủ phô bay đạo cái con" - nhắn nhủ các ngươi về đạo làm con. Trích Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
- "Tôi đã nói ra cùng phô ông" - tôi đã nói với các ông. Trích Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes.
- "Bấy nhiêu lời cha đã nói là lời trối sau hết thì phô con phải giữ." Trích Sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh.
ベトナム語訳
Bên cạnh đó còn có “min”. Đây là cách người trên xưng “tôi” với người dưới. Nó gần giống “ta” hay “tao” trong một số trường hợp. Trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn ... [văn bản ngắt tại đây]
