Die lebendige Art zu leben in Hoi An
Nếp sống còn mãi ở Hội An
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Van Hoa Xa Hoi.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/19
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Bản dịch tiếng Việt
Nhiều thế hệ ở Hội An vẫn chăm nom ngôi mộ 379 năm tuổi của một thương nhân Nhật. Mộ nằm giữa cánh đồng lúa, vẫn còn nguyên vẹn. Dù trải qua bao cuộc chiến và đổi thay, người nằm lại không hề cô quạnh.
Bản dịch tiếng Việt
Ông Nguyễn Thế Hùng là người Hội An. Ông nói ai muốn thấy nét đẹp nhất của Hội An thì nên ra cánh đồng Trường Lệ ở phường Hội An Đông. Ruộng lúa nằm giữa phố là điều đặc biệt chỉ Hội An mới có. Giữa ruộng nhô lên một gò nhỏ, cao hơn mặt đồng. Trên gò là ngôi mộ hình yên ngựa. Trên mộ dựng tấm bia đá sa thạch trắng, khắc câu chuyện về Tani Yajirobei, thương nhân đến từ Hirado ở Nhật Bản. Mộ xoay theo hướng tây nam - đông bắc, để người đã khuất hướng về quê nhà bên kia biển khơi.
Bản dịch tiếng Việt

Bản dịch tiếng Việt
Tấm bia sa thạch trắng kể câu chuyện về thương nhân Tani Yajirobei. Ảnh: TVN
Bản dịch tiếng Việt
Năm nay ngôi mộ tròn 379 tuổi. Nó vẫn nguyên vẹn sau bao thời cuộc: thời các chúa Nguyễn, thời Tây Sơn, triều Nguyễn, hai cuộc chiến và làn sóng đô thị hóa. Phố lớn dần và lấn dần những cánh đồng quanh khu phố cổ. Mộ còn lại không phải vì được xếp hạng di tích. Nó còn lại nhờ các gia đình nông dân trông nom. Năm, sáu đời nay họ vẫn quét dọn, thắp hương. Người nằm đó là khách lạ, chẳng phải ruột rà, họ cũng không nhận đồng nào. "Chạp mả" là nếp thiêng ở Hội An. Người ta chăm mộ tổ tiên và mang thêm một mâm cơm ra đồng, đặt trước mộ người Nhật. Họ nói theo giọng Quảng Nam: "Để ổng không nằm một mình ở Hội An."
Bản dịch tiếng Việt
Tác giả đứng trước gò đất và nghĩ: muốn hiểu tình bạn Việt - Nhật bắt đầu thế nào thì hãy bắt đầu từ đây. Muốn hiểu trái tim của di sản là gì, cũng hãy bắt đầu từ đây. Chứ không phải ở cầu Chùa đông du khách.
Bản dịch tiếng Việt
Mối quan hệ bắt đầu từ niềm tin
Bản dịch tiếng Việt
Cuối thế kỷ 16, nhà Minh cấm buôn đường biển, tạo ra khoảng trống lớn trên vùng biển phía Đông. Mạc phủ Tokugawa lấp khoảng trống ấy bằng chế độ Châu Ấn Thuyền, cấp phép cho tàu buôn Nhật ra nước ngoài. Các chúa Nguyễn ở Đàng Trong mở cửa. Hội An, tên trên bản đồ phương Tây là Faifo, thành thương cảng quan trọng. 86 tàu buôn Nhật cập bến Hội An, chiếm hai phần ba số tàu mang ấn đỏ đến Việt Nam.
Bản dịch tiếng Việt
Người Nhật chở bạc, đồng và diêm tiêu sang, rồi mang tơ sống xứ Quảng Nam, trầm hương và kỳ nam về Nagasaki. Một bên cầu Chùa hình thành khu phố Nhật dài hơn 300 m, có thị trưởng riêng do cộng đồng bầu và được chúa Nguyễn chuẩn y. Bên kia cầu là đường Dương Nhân Phố của người Hoa. Linh mục Christoforo Borri đến Đàng Trong năm 1618 và miêu tả Hội An như hai đô thị kề nhau.
Bản dịch tiếng Việt

Bản dịch tiếng Việt
Tranh Châu Ấn Thuyền, góc phải đề “Tranh thuyền từ Nagasaki đi An Nam”, vẽ khoảng 1600-1650. Nguồn: Wikipedia
Bản dịch tiếng Việt
Chúa Nguyễn Hoàng nhận thương nhân Hunamoto Yabeiji làm con nuôi năm 1604. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ban quốc tính cho thương nhân giàu có Araki Sotaro, từ đó ông mang tên Việt là Nguyễn Thái Lang. Rồi năm 1619, chúa làm điều chưa từng có: gả con gái nuôi là công nữ Ngọc Hoa cho ông. Bà theo chồng sang Nagasaki, thành người phụ nữ Việt đầu tiên sống ở Nhật. Dân ở đó trìu mến gọi bà là Anio-san, theo tiếng bà gọi chồng “Anh ơi”. Đến nay, mỗi dịp tháng Mười, lễ hội Nagasaki Kunchi vẫn có đám rước kiệu hình Châu Ấn Thuyền chở hình bóng đôi vợ chồng. Đó là điểm nhấn của lễ hội.
Bản dịch tiếng Việt
Ông Đoàn Ngọc Hiếu thường bay qua lại giữa Việt Nam và Nhật Bản để chuẩn bị bộ phim chung về công nữ Ngọc Hoa do hai nước hợp tác. Ông còn mơ dựng vở opera về mối tình của hai con người và hai đất nước, trình diễn ngay trên quê nhà.
Bản dịch tiếng Việt
Di sản không chỉ là gỗ đá
Bản dịch tiếng Việt
Người ta hay nghĩ di sản Hội An chỉ là vật thể: những nếp nhà vàng rêu phong, những giếng nhỏ nép trong con kiệt - người Hội An gọi ngõ nhỏ là “kiệt” -, cây cầu Chùa do người Nhật dựng khoảng năm 1593, được chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên “Lai Viễn Kiều” năm 1719 - cầu đón khách phương xa; những mái ngói âm dương; món cao lầu hao hao mì Ise Udon xứ Mie nhưng làm bằng nước tro Cù Lao Chàm và nước giếng Bá Lễ. Tất cả đều quý. Nhưng gỗ có thể mục, cầu có thể trùng tu. Điều không thể sửa, không thể mua, không thể đưa vào danh mục bảo vệ mà lại quan trọng nhất chính là thứ làm cho mọi vật có ý nghĩa: con người Hội An.
Bản dịch tiếng Việt

Bản dịch tiếng Việt
Cầu Chùa ở Hội An do người Nhật dựng khoảng năm 1593. Nguồn: Wikipedia
Bản dịch tiếng Việt
Nhìn cách ứng xử suốt bốn thế kỷ sẽ thấy. Người Hội An thế kỷ 17 không coi thương nhân Nhật là kẻ lạ chỉ biết kiếm lời mà xem họ là bạn đồng hành cùng dựng xây. Vì thế chúa gả con gái, dân quý mến bà. Ở Ngũ Hành Sơn còn những gia đình mang họ Trần, Nguyễn có dòng máu lai. Sang thế kỷ 18, người Hội An đón món mì của Nhật, chế lại bằng nguyên liệu bản xứ để thành món chung của mọi nhà. Và từ thế kỷ 17 đến nay, người Hội An vẫn thắp hương, chăm ba ngôi mộ khách lạ - Tani Yajirobei, Banjiro và Gusokukun - như mộ ông bà mình.
Bản dịch tiếng Việt
Đó chính là ý nghĩa của ba chữ “Lai Viễn Kiều”. Cầu đón khách xa, nhưng cầu chỉ là biểu tượng. Chính con người đón khách. Di sản Hội An, được UNESCO công nhận năm 1999, suy cho cùng không chỉ là quần thể nhà cổ. Di sản đích thực là một nếp sống. Người Hội An đã sống như vậy hơn bốn trăm năm, chưa từng gián đoạn.
