Meditation kann Nebenwirkungen haben, Achtsamkeit nicht
Thiền có thể gây tác dụng phụ, chánh niệm thì không
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Van Hoa Xa Hoi.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/24
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Ba yếu tố quyết định mức độ rủi ro khi hành thiền: tiền sử tâm lý, cường độ thực hành và chất lượng hướng dẫn.
Mới đây tôi đọc một bài tổng quan trên báo Tia Sáng, điểm lại các nghiên cứu về thiền và chánh niệm. Chánh niệm ngày nay được ứng dụng rộng rãi để chăm sóc sức khỏe tinh thần. Nhưng người ta lo nó có thể gây tác dụng phụ. Khái niệm này cần được làm rõ một cách thận trọng. Tác dụng phụ nào? Với cách thực hành nào? Mức độ ra sao? Trong điều kiện nào? Trả lời được những câu hỏi đó, người hành thiền mới thật sự yên tâm.
Thiền là phương pháp, chánh niệm là trạng thái
Mindfulness là từ tiếng Anh chỉ chánh niệm. Đó là cách dịch chữ sati trong tiếng Pali. Nghĩa gốc là ghi nhớ. Nhà nghiên cứu Thomas William Rhys Davids, người sáng lập Pali Text Society, đã dùng cách dịch này từ năm 1881. Trong cuốn Buddhist Suttas, ông dịch sammā-sati là right mindfulness. Đến nay, đây vẫn là thuật ngữ chuẩn trong khoa học và trong phong trào chánh niệm trên toàn thế giới.
Năm 2011, sư thầy kiêm học giả Bhikkhu Bodhi xem lại các văn bản cổ. Ông phân tích cách Đức Phật dùng chữ sati và đề nghị nên dịch chính xác hơn là nhận biết rõ ràng. Bởi trong Phật giáo thời kỳ đầu, sati luôn đi cùng với sự nhận biết sáng suốt. Nghĩa là hành giả có thể xét xem các hiện tượng thân tâm là thiện hay bất thiện. Chánh niệm vì thế là một trạng thái của thân và tâm hợp nhất. Người ấy tiếp xúc với hiện tại, làm chủ bản thân, không bị cuốn theo xung động, nhưng cũng không đè nén hay chối bỏ chúng.
Thiền thì khác, đó là phương pháp. Nó gồm nhiều kỹ thuật cụ thể để rèn luyện thân tâm. Cho đến nay thế giới vẫn có rất nhiều cách hành thiền. Mỗi cách nhắm tới một mục tiêu riêng, như thư giãn, tăng khả năng tập trung hay nuôi dưỡng niềm tin.
Khác biệt này cho thấy cụm từ mindfulness meditation mà một số nhà nghiên cứu và truyền thông phương Tây hay dùng là có vấn đề. Gộp chung thiền với chánh niệm rồi đo tác dụng phụ thì chẳng khác nào nghiên cứu thể thao mà không phân biệt đi bộ với leo núi. Vì vậy, những con số về tác dụng phụ của thiền mindfulness dễ gây lo lắng không cần thiết cho nhiều người.
Mỗi kỹ thuật thiền có một mức rủi ro riêng
Đã có nhiều phương pháp thiền khác nhau. Đơn giản nhất là thiền có hướng dẫn, người tập nghe băng thu sẵn hoặc nghe một người dẫn dắt từng bước. Có phép quán tưởng, tâm đi vào một hình ảnh trong tưởng tượng. Nhờ đó nuôi dưỡng một trạng thái thân tâm, ví dụ như thư giãn, dễ chịu, hay lòng từ bi. Có thiền định, chỉ tập trung vào một đối tượng duy nhất như hơi thở, lời cầu nguyện hay một vùng trên cơ thể. Một biến thể của cách này là đưa sự chú ý lần lượt qua từng vùng cơ thể. Dừng lại ở mỗi vùng một lúc, rồi rời đi để sang vùng tiếp theo, mỗi lúc chỉ để ý một vùng. Đó là phép quán sát cảm thọ khắp thân. Giáo sư Kabat-Zinn đã đưa nó sang phương Tây với tên gọi Body Scan. Và có thiền quán do chính Đức Phật truyền dạy. Tâm để mở, không bám vào một điểm cố định, chỉ quan sát mọi hiện tượng thân tâm. Chúng sinh ra, lớn lên, yếu dần rồi mất đi trong tương tác với môi trường. Nhờ quan sát ấy, Đức Phật thấy rõ đặc tính vô thường, vô ngã và duyên sinh của mọi hiện tượng. Các kỹ thuật này có chiều sâu khác nhau. Mỗi kỹ thuật mang rủi ro riêng. Nhưng nếu kết hợp, chúng có thể bổ trợ cho nhau.
Một thử nghiệm lâm sàng có nhóm đối chứng của TS. Willoughby Britton và Brendan C. tại Đại học Brown cho thấy điều đó. Người tham gia từng bị trầm cảm hoặc lo âu, trước đó chưa hành thiền thường xuyên. Can thiệp kéo dài tám tuần. Nhóm chỉ tập thiền định với sự chú ý tập trung giảm trầm cảm nhanh nhất. Vì họ chặn được xao lãng và tạm ngắt dòng suy nghĩ tiêu cực. Nhưng đến tuần thứ 20, trầm cảm quay lại mạnh hơn. Bởi những vòng lặp suy nghĩ tiêu cực chưa được chuyển hóa tận gốc.
Ngược lại, nhóm chỉ tập thiền quan sát mở tiến bộ chậm nhất trong thời gian can thiệp. Đến tuần thứ 20, lo âu còn tăng mạnh hơn các nhóm khác. Vì họ nhìn thẳng vào nội tâm hỗn loạn khi khả năng tập trung chưa đủ. Cảm xúc vì thế rất dễ quá tải.
Chỉ khi kết hợp cả hai, sự cải thiện mới bền vững. Trước hết dùng định để ổn định hệ thần kinh. Sau đó dùng quán để thấy rõ: những suy nghĩ tiêu cực vốn không có nền tảng.
Kết quả nghiên cứu này đăng năm 2021 trên tạp chí PLOS ONE.
Những điều kiện tạo ra rủi ro khi hành thiền
Một con số gây sốc thường bị hiểu sai: hơn 80% người hành thiền gặp hoảng loạn hoặc khủng hoảng cảm xúc. Con số này lấy từ công trình ban đầu của TS. Jared Lindahl và TS. Willoughby Britton trên PLOS ONE năm 2017. Đó là nghiên cứu định tính với mẫu chọn chủ đích. Nghĩa là nhóm nghiên cứu chủ động tìm những người từng gặp trục trặc khi hành thiền. Mẫu gồm các thiền sinh Phật giáo phương Tây, tuổi trung bình 48,9. Số người thuộc ba truyền thống Theravāda, Zen và Tây Tạng bằng nhau, mỗi nhóm 20 người. Phần lớn là người da trắng, phần lớn là giáo viên dạy thiền. Ngoài ra, nghiên cứu còn phỏng vấn thêm chuyên gia, giáo viên và nhà trị liệu.
Vì hiểu rõ giới hạn của cách chọn mẫu chủ đích, trong nghiên cứu năm 2021 trên PLOS ONE, nhóm tác giả xây dựng một thang đo mới. Thang này tên là MedEx-I, dùng để ghi nhận các biến cố tiêu cực theo chuẩn thống nhất. Kết quả: tỷ lệ suy giảm chức năng kéo dài hơn một tháng, ví dụ mất ngủ, lo âu hay cảm giác tách rời khỏi bản thân đến mức khó làm việc và sinh hoạt, chỉ ở mức 6-14%, tùy nhóm: chú ý tập trung, quan sát mở hay liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm.
Một khảo sát khác, hoàn toàn độc lập với hai nghiên cứu trên, do Simon B. Goldberg và cộng sự thực hiện năm 2022. Họ hỏi trên mẫu đại diện cho dân số Mỹ. Kết quả cho thấy một bộ phận gặp suy giảm chức năng, nhưng chỉ số ít kéo dài hơn một tháng.
Đặc biệt quan trọng: mô hình đa biến cho thấy yếu tố dự báo khủng hoảng mạnh nhất không phải loại kỹ thuật, cũng không phải tổng số giờ hành thiền. Đó là gánh nặng tâm lý có sẵn kết hợp với một khóa tu đột ngột, cường độ cao trong cách ly. Đây là điều kiện đầu tiên: lịch sử và tình trạng hiện tại của thiền sinh ảnh hưởng đến rủi ro nhiều hơn bản thân kỹ thuật.
