Raketen gegen B-52: Der Luftkampf um Hanoi
Cuộc chiến giành bầu trời Hà Nội
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Ho So Nhan Vat.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/20
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Quả tên lửa nổi tiếng
Miền Bắc Việt Nam có rất nhiều vũ khí phòng không. Nhưng hiếm có loại vũ khí nào khiến người Mỹ khiếp sợ như tên lửa S-75 Dvina. Chính loại tên lửa này đã bắn rơi máy bay B-52 trong chiến dịch "12 ngày đêm" năm 1972.
B-52 đối đầu tên lửa
B-52 bay rất cao, cao tới hàng nghìn mét. Chúng được bảo vệ bằng hệ thống gây nhiễu và bằng các máy bay chống radar. Còn ở mặt đất là các trận địa tên lửa SA-2 với radar, máy tính điều khiển hỏa lực và những người lính. Những người lính phải phát hiện mục tiêu, dự đoán đường bay và bắn trúng đích. Và họ phải làm được điều đó trước khi chính mình bị tiêu diệt.
Trong cuộc chiến ấy, có một người ngồi ngay sau bàn điều khiển tên lửa S-75 Dvina. Quả tên lửa này do Liên Xô chế tạo. NATO gọi nó là SA-2 "Guideline". Người đó tên là Nguyễn Văn Phiệt. Ông đã phóng 89 quả tên lửa. Theo các báo cáo, ông bắn trúng 21 mục tiêu, trong đó có 4 chiếc B-52.
Nhiều năm sau, ông ngồi trong ngôi nhà của mình ở Hà Nội. Ông Phiệt là tướng đã về hưu. Ông từng là Phó tư lệnh Phòng không. Ông nói: "Người Mỹ đã xâm phạm tự do của chúng tôi. Hồi đó tôi đã làm tròn nghĩa vụ với Tổ quốc."
Lá chắn trên bầu trời Thủ đô
Phi công Mỹ gọi SA-2 là "cột điện thoại biết bay". Quả tên lửa có 2 tầng, dài khoảng 10,7 m. Nó nặng khoảng 2.270 kg. Tầm bắn khoảng 34 km. Nó bay nhanh gấp hơn 4 lần tốc độ âm thanh. Nó có thể bay cao tới 27,4 km. Nó mang đầu đạn phá mảnh khoảng 195 kg. Đầu đạn có thể phá hủy mọi thứ trong bán kính khoảng 274 m.
Năm 1960, một quả SA-2 bắn rơi máy bay trinh sát U-2 của Francis Gary Powers trên bầu trời Liên Xô. Bảy năm sau, một quả SA-2 bắn trúng chiếc A-4 Skyhawk của John McCain. Chiếc máy bay mất điều khiển. McCain phải bật ghế phóng thoát ra ngoài. Ông nhảy dù xuống Hà Nội. Ông bị thương nặng và bị bắt.
Và SA-2 còn lập một trong những chiến thắng lớn nhất trên không: bắn rơi hơn chục chiếc B-52 trong các đợt ném bom suốt "12 ngày đêm" năm 1972.
Về sau, thời gian xóa gần hết dấu vết của các trận địa SA-2 cơ động quanh Hà Nội. Chính những trận địa này từng biến bầu trời thành phố thành một trong những khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt nhất thế giới. Nhưng ở Hà Nội, người ta vẫn thường thấy quả tên lửa này.
Trong khuôn viên các bảo tàng quân sự, những quả tên lửa dựng cao như tượng các vị thần Hy Lạp. Phóng viên David Freed của báo Smithsonian viết về bộ đội tên lửa Việt Nam: "Là người Mỹ, nhìn thấy những vũ khí này thật sự gây sốc. Những vũ khí này đã bắn rơi rất nhiều phi công Mỹ. Tôi thấy hơi bất an."
Huấn luyện ở Liên Xô
Ông Nguyễn Văn Phiệt nhập ngũ năm 1960. Năm năm sau, ông là một trung úy trẻ. Ông cùng khoảng 1.000 đồng đội sang Liên Xô. Ở đó, ông học về tên lửa SA-2. Suốt 9 tháng, họ học và luyện tập 14 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần. Họ học đủ tiếng Nga. Nhiều người có thể nói chuyện với thầy giáo. Cuối khóa huấn luyện, họ bắn SA-2 vào 2 máy bay không người lái. Ông Phiệt và nhóm của mình bắn trúng cả 2 mục tiêu.
Học xong trường tên lửa, ông Phiệt về tỉnh Hòa Bình, phía tây nam Hà Nội. Ở đó, ông xây dựng tuyến phòng không vòng ngoài cho thành phố. Như các trận địa SA-2 khác ở miền Bắc, đơn vị của ông được biên chế 6 quả tên lửa. Các quả tên lửa đặt theo hình gần tròn trên bệ phóng cơ động gắn trên xe tải. Mỗi quả cách xe điều khiển và xe phụ trợ khoảng 1,6 km.
Một khẩu đội SA-2 bình thường dùng radar cảnh giới Spoon Rest đặt trên xe tải. Nó phát hiện mục tiêu rồi truyền dữ liệu cho một máy tính đơn giản. Còn radar dẫn bắn Fan Song hỗ trợ phát hiện mục tiêu và điều khiển tên lửa. Mỗi quả SA-2 cần ít nhất 5 người lính chủ chốt, chưa kể nhân viên bảo dưỡng và trợ thủ: 3 trắc thủ radar, một sĩ quan điều khiển và một khẩu đội trưởng.
Phát bắn đầu tiên
Chiều 22.10.1966, có các chuyên gia Liên Xô đến xem. Ông Phiệt nhận được báo cáo từ trung tâm ở Hà Nội: Khoảng 2 chục máy bay chiến đấu Mỹ từ Thái Lan bay tới. Ông kể: Khi máy bay còn cách khoảng 60 km, ông xin trắc thủ radar cho xem màn hình. Sau đó ông báo cáo cấp trên: Chúng tôi thấy máy bay địch trên radar. Ông nhận được lệnh: Bắn một quả tên lửa khi sẵn sàng. Quả SA-2 rít lên rồi rời bệ phóng. Ông Phiệt tin vào những gì mình được huấn luyện. Nhưng ông vẫn bất ngờ khi quả tên lửa bắn trúng mục tiêu, một chiếc F-105 Thunderchief của không quân Mỹ.
Hồ sơ của phía Mỹ cho thấy: Hôm đó không có chiếc F-105 nào bị mất trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Nhưng một ngày trước đó, một chiếc "Thud" của Phi đoàn tiêm kích chiến thuật 469 từ Thái Lan đã nổ như quả cầu lửa trong một phi vụ ném bom ở phía nam Hà Nội. "Cả chiếc máy bay nổ tung", ông Phiệt nhớ lại. Mắt ông nhìn xa xăm, bình thản.
Như những người lính SA-2 khác, ông Phiệt và đồng đội hiếm khi có ngày nghỉ hay kỳ phép. Khi không chiến đấu, họ chợp mắt vội trên xe tải hoặc trên mặt đất ngoài trời.
Bảo dưỡng và chiến đấu
Đại tá Nguyễn Đình Kiên từng là sĩ quan điều khiển hỏa lực của SA-2. Ông kể: Chuyên gia kỹ thuật Liên Xô mỗi tháng đến một lần. Họ kiểm tra xem mọi thứ có hoạt động bình thường không. Lần nào họ cũng phải trả lời rất nhiều câu hỏi của bộ đội tên lửa.
SA-2 là một vũ khí phức tạp. Tầng một dùng nhiên liệu rắn, tầng hai dùng nhiên liệu lỏng. Phải bảo dưỡng nó thường xuyên. Hệ thống radar của mỗi khẩu đội cũng cần bảo dưỡng định kỳ. Ông Kiên nhớ lại: Chuyên gia Liên Xô nói mỗi quả SA-2 hồi đó giá khoảng 100.000 USD. Tính ra ngày nay là hơn 700.000 USD.
Ngày 28.2.1968, ông Kiên lần đầu thực sự vào trận. Ông bám theo một chiếc A-6 Intruder của hải quân Mỹ suốt 19 km. Rồi ông phóng 2 quả SA-2. Cả hai đều trượt mục tiêu. Chiếc Intruder dùng "tín hiệu gây nhiễu khó chịu". Radar của đơn vị bị nhiễu, ông kể.
Sau đó, ông và đồng đội chờ đợi đòn đánh trả của chiếc Intruder. Cảm giác như hàng giờ trôi qua. "Suốt thời gian đó tôi sợ địch bắn trúng mình", ông nhớ lại. Nhưng tổ lái chiếc A-6 không tấn công.
Kiểm tra đọc hiểu
Trả lời sau khi đọc để kiểm tra bạn đã nắm được ý chính chưa.
Bài đọc tiếp theo
Der erste Chip aus Vietnam
## Der erste Chip aus Vietnam Ab dem Jahr 1977 hat unser Labor für Mikro-Elektronik einen MOS-Schaltkreis selbst entworfen und gebaut. Heute nennen wir das einen Chip. Das Labor gehört zum…
Đọc và họcDer Fotograf Andy Soloman und Vietnam
Der britische Fotograf Andy Soloman liebt normale Menschen. Früher war er Foto-Reporter. Er fotografiert am liebsten normale Menschen. Er sagt: Sie sind das Herz von Vietnam. Andy kommt 1992 zum…
Đọc và họcFirmen in Vietnam bleiben draußen vor dem großen Markt
Vietnam ist schon ein großes Zentrum für Maschinenbau und Montage. Aber viele Teile kommen noch aus dem Ausland. Das sagt Professor Phan Dang Tuat. Er ist Präsident vom Verband VASI für…
Đọc và họcForscher über Vietnams Intellektuelle ist gestorben
Professor Trinh Van Thao ist gestorben. Er hat viel über die Geschichte von Intellektuellen, Bildung und Gesellschaft in Vietnam in der modernen Zeit geforscht. Er war ein französischer Forscher mit…
Đọc và học