Das Problem mit dem Naturschutz in Vietnam
Bài toán bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam
This reading was translated and simplified for German learners. The original content belongs to Tia Sang - Van Hoa Xa Hoi.
Select a word or phrase to look it up, translate it, highlight it, or add a note.
Reading progress
Paragraph 1/27
Read the German first. Reveal the translation below any paragraph when needed.
Vietnamese translation
Nghịch lý của bảo tồn
Vietnamese translation
Nhiều nơi giàu đa dạng sinh học được xem là trọng điểm bảo tồn. Nhưng cũng chính những nơi đó lại là sinh kế của người dân địa phương.
Vietnamese translation
Ví dụ ở phía tây Quảng Trị
Vietnamese translation
Ở phía tây Quảng Trị có khu rừng Bắc Hướng Hóa, nối liền với Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Đây là nơi sinh sống của nhiều loài quý hiếm như sao la, đồng thời cũng là chỗ dựa của các cộng đồng bản địa gắn bó với rừng để mưu sinh.
Vietnamese translation
Đây là một "điểm nóng" điển hình. Một nghiên cứu mới về quy hoạch bảo tồn ở Việt Nam cho thấy nhiều khu vực có giá trị bảo tồn cao lại trùng với nơi người dân dựa vào để kiếm sống.
Vietnamese translation
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Communications Earth & Environment (thuộc Nature) chỉ ra Việt Nam có bốn nhóm điểm nóng như vậy. Vì thế, mở rộng bảo tồn không dừng ở việc giữ rừng. Nó gắn liền với việc làm, thu nhập và công bằng cho người dân tại chỗ.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Ảnh: Rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị) năm 2021. Ảnh: Hoàng Táo
Vietnamese translation
Những nơi khó thay thế
Vietnamese translation
Đầu tiên, nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học Việt Nam, Anh và Canada rà soát hệ thống khu bảo tồn hiện nay đang bảo vệ được những gì. Họ chồng ghép các bản đồ: vùng sinh thái, kiểu rừng tự nhiên, nơi phân bố loài nguy cấp, với bản đồ 133 khu bảo tồn trên cạn. Tổng diện tích được bảo vệ hiện nay khoảng 24.654 km², tương đương 7,4% diện tích đất liền Việt Nam. Phần lớn nằm ở vùng núi cao trên 700 m, hẻo lánh và thưa dân.
Vietnamese translation
Với từng mục tiêu bảo tồn, nhóm tính tỷ lệ diện tích đã được bảo vệ. Ví dụ, một loài phân bố trên 100 km² nhưng chỉ 10 km² nằm trong khu bảo tồn thì mức bảo vệ là 10%. Nếu loài quý hiếm chỉ sống ở phạm vi rất hẹp mà phần lớn nằm ngoài khu bảo tồn, khoảng trống sẽ rất lớn.
Vietnamese translation
Sau đó, họ đối chiếu các con số này với hai mốc tham chiếu. Mốc thứ nhất là 17%, theo Mục tiêu Aichi 11 cũ về đa dạng sinh học. Mốc thứ hai là 30%, theo mục tiêu toàn cầu 30x30 trong Khung Kunming-Montreal. Chẳng hạn, khi 30% sinh cảnh của một loài nằm trong khu bảo tồn thì loài đó đạt mốc 30%.
Vietnamese translation
Kết quả cho thấy mức bao phủ trung bình của hệ thống hiện nay còn thấp: chỉ 10% cho mỗi vùng sinh thái trên cạn, 12% cho mỗi kiểu rừng tự nhiên và 17% sinh cảnh cho mỗi loài nguy cấp. Xét riêng các loài, chỉ 53 trong số 327 loài được khảo sát, tức 16%, có trên 30% sinh cảnh nằm trong khu bảo tồn.
Vietnamese translation
Từ những khoảng trống đó, câu hỏi tiếp theo là nếu muốn mở rộng hệ thống thì nên ưu tiên khu vực nào, chẳng hạn để đạt mục tiêu quốc gia 9% diện tích đất liền hoặc góp phần thực hiện mục tiêu toàn cầu 30x30.
Vietnamese translation
Nhóm xây dựng chỉ số ưu tiên bảo tồn (CPI) trong khoảng từ 0 đến 1. Nói đơn giản, CPI càng cao thì khu vực đó càng khó thay thế, không thể tìm nơi khác có giá trị tương đương với thiên nhiên. Thường đó là những nơi tập trung nhiều loài, hệ sinh thái quan trọng nhưng phân bố rất hẹp.
Vietnamese translation
83% diện tích trọng yếu vẫn nằm ngoài khu bảo tồn
Vietnamese translation
Kết quả cho thấy khoảng 83% diện tích có CPI rất cao hiện vẫn nằm ngoài khu bảo tồn.
Vietnamese translation
Vấn đề càng phức tạp hơn khi chồng bản đồ CPI lên bản đồ chỉ số phát triển con người (HDI). Những nơi CPI cao nhất lại có HDI thấp nhất, tức người dân gặp nhiều khó khăn nhất. Tổng cộng, 92% diện tích trọng yếu nhưng chưa được bảo vệ, khoảng 8.840 km², nằm ở khu vực có HDI thấp, nơi thu nhập, học vấn và sức khỏe của người dân đều hạn chế và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội rất lớn.
Vietnamese translation
Nhóm tác giả cho rằng cần bảo vệ những khu vực này, nhưng nếu chỉ đóng cửa rừng mà bỏ qua bối cảnh kinh tế - xã hội thì sẽ càng tạo thêm sức ép lên những cộng đồng vốn đã khó khăn.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Ảnh: Khu bảo tồn đất ngập nước Tiền Hải, Thái Bình (nay thuộc Hưng Yên) năm 2023. Ảnh: Ngọc Thành
Vietnamese translation
Khó khăn về quản lý và kinh phí
Vietnamese translation
Theo nghiên cứu, khoảng trống bảo tồn không chỉ nằm ở diện tích. Cách quản lý và nguồn lực cũng là trở ngại. Ở Việt Nam, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý, nhưng không phải lúc nào cũng đủ kinh phí và nhân lực, trong khi vẫn phải lo phát triển kinh tế. Vì vậy, nhiều hoạt động tuần tra, bảo vệ hiện vẫn dựa vào các dự án ngắn hạn do nhà tài trợ và tổ chức phi chính phủ (NGO) hỗ trợ.
Vietnamese translation
Một khó khăn khác là tiếng nói của cộng đồng địa phương còn mờ nhạt. Người dân có thể được hỏi ý kiến nhưng ít khi thực sự tham gia quyết định hay chia sẻ lợi ích. Dữ liệu chi tiết về quyền sử dụng đất, thu nhập hộ gia đình hay tình trạng nghèo ở cấp cơ sở cũng thiếu, khiến quy hoạch chưa phản ánh đúng đời sống của những cộng đồng gắn với rừng.
Vietnamese translation
Những vướng mắc này phần nào lý giải vì sao phần lớn diện tích trọng yếu vẫn chưa được bảo vệ và thường rơi vào nơi mức độ phát triển còn thấp.
Vietnamese translation
Gắn sinh kế với bảo tồn
Vietnamese translation
Nhóm tác giả đề xuất quy hoạch đồng thời hai mục tiêu: bảo vệ đa dạng sinh học và tạo việc làm, sinh kế. Hai mục tiêu này cần song hành, thay vì đối lập nhau.
