Der Soldat, die Laterne und die Reise nach Jakarta
Người lính, chiếc đèn lồng và chuyến đi Jakarta
This reading was translated and simplified for German learners. The original content belongs to Tia Sang - Ho So Nhan Vat.
Select a word or phrase to look it up, translate it, highlight it, or add a note.
Reading progress
Paragraph 1/27
Read the German first. Reveal the translation below any paragraph when needed.
Vietnamese translation
Từ nghi phạm thành người tài: Nhờ giỏi kỹ thuật, Lê Văn Nguyên được vua trọng dụng và còn được cho ra nước ngoài học tập.
Vietnamese translation
Mùa xuân 1835: Chuyến đi ra Huế
Vietnamese translation
Sáng sớm mùa xuân 1835. Người lính Lê Văn Nguyên quê Quảng Ngãi ngồi trên thuyền quân sự. Thuyền rời Gia Định ra Huế, về kinh đô. Tay chân anh bị xiềng xích. Anh thở nặng nhọc.
Vietnamese translation
Anh nghĩ thầm: Ở Gia Định đang có chiến sự dữ dội. Vậy mà người ta vẫn giải mình ra Huế, tới Bộ Binh để tra xét. Chắc lỗi của mình lớn lắm. Chuyến đi này lành ít dữ nhiều.
Vietnamese translation
Nhưng anh không ngờ điều sắp xảy ra. Gần ba năm sau, tháng 12 năm 1837, anh vẫn bình an. Anh không còn là lính thường nữa. Anh đã thành Thị vệ, tức lính hầu cận trực tiếp cho vua. Anh lại ngồi trên thuyền. Lần này anh đi Giang Lưu Ba theo lệnh vua, nơi nay là Jakarta ở Indonesia.
Vietnamese translation
Vì sao anh phải ra Huế?
Vietnamese translation
Mọi chuyện bắt đầu từ một đêm người lính đùa cho vui.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Lê Văn Nguyên được phong Thị vệ ngũ đẳng, tức người lính hầu cận trực tiếp cho nhà vua.
Vietnamese translation
Khi ấy Lê Văn Nguyên giữ chức Phó suất đội vệ Quảng Ngãi. Đây không phải lính trơn nhưng cũng chưa phải sĩ quan cao cấp. Đơn vị của anh được giao vây hãm thành Bát Quái ở Gia Định. Thành đang do quân nổi dậy của Lê Văn Khôi chiếm giữ. Vua Gia Long cho xây thành này, hình ngôi sao kiểu pháo đài châu Âu. Thành rất kiên cố, ngay cả đại bác hiện đại cũng khó phá nổi. Vì thế cuộc vây hãm kéo dài nhiều năm. Quân triều đình còn đắp một lũy đất dài. Sau lũy đất, binh lính có thể tránh hỏa lực của quân nổi loạn.
Vietnamese translation
Sách Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 143, chép:
Vietnamese translation
Ở Gia Định có Phó suất đội vệ Quảng Ngãi là Lê Văn Nguyên, khéo làm đèn bay Thừa Vân, trước gọi là Yên Đăng. Ban đêm anh thả đèn ở phía hữu lũy. Một Thị vệ của vua tình cờ ra mặt trận vì công vụ trông thấy. Khi về, người này tâu lại với vua. Vua Minh Mạng nói: “Chỉ việc nhỏ này đã thấy binh lính không nghiêm theo lệnh. Trẫm sẽ xét việc này. Có lẽ không có ý đồ xấu. Nhưng đêm hôm thả đèn bay gây ồn ào, ai cũng ngoái nhìn. Anh ta chỉ là một người lính, sao tự ý làm được? Chắc viên quản vệ Tôn Thất Cung đã dễ dãi cho phép. Còn các tướng, tham tán, lãnh binh ở đó đều không hỏi han gì. Đêm ấy họ không canh phòng sao? Phải quở trách nghiêm khắc. Còn Lê Văn Nguyên thì giải về Huế. Giao cho Bộ xét hỏi. Nếu nói thật thì tha, nói dối sẽ phạt nặng.”
Vietnamese translation
Có lẽ trong một đêm buồn chán, Lê Văn Nguyên muốn làm bạn bè vui nên mới chế đèn trời. Lẽ ra đó chỉ là trò nhỏ không đáng gì. Nhưng đúng đêm ấy, một Thị vệ của vua lại nhìn thấy chiếc đèn. Chỉ vì cuộc vui chốc lát, cả anh lẫn cấp trên đều gặp rắc rối. Trong lòng anh hẳn đầy ân hận.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Từ nghi phạm thành Thị vệ của vua
Vietnamese translation
Nhưng ở kinh đô, mọi việc diễn ra khác hẳn điều anh lo. Không có cuộc tra hỏi gay gắt, cũng không có hình phạt nặng. Vua muốn thử tài anh: truyền cho Lê Văn Nguyên làm lại chiếc đèn và dâng lên xem. Tận mắt thấy đèn, vua khen chế tác tinh xảo, khéo léo. Để thưởng, vua cho anh chức mới: Thị vệ ngũ đẳng, tức lính hầu cận trực tiếp cho vua.
Vietnamese translation
Từ một nghi phạm chờ xét xử, anh trở thành người có tài được vua trọng dụng.
Vietnamese translation
Vua cũng ra lệnh cho các tướng, tham tán và lãnh binh: ai có sáng kiến hay kế hay thì phải trình lên nha môn quân sự để xem xét và thi hành. Ai tự ý hành động khi chưa được phép sẽ bị phạt. Nhờ vậy kỷ luật được giữ nghiêm.
Vietnamese translation
Qua đó thấy rõ vua Minh Mạng không chỉ đòi hỏi binh lính tuân lệnh, mà còn muốn khuyến khích óc sáng tạo và trí thông minh của họ.
Vietnamese translation
“Du học” ở Jakarta và việc chế tạo máy bơm nước
Vietnamese translation
Gần ba năm sau, tên Lê Văn Nguyên lại xuất hiện trong sử sách. Sách Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 187, chép: tháng 12 năm 1837, vua lệnh cho các quan Lê Bá Tú, Nguyễn Tri Phương và Vũ Văn Trí coi sóc những thuyền lớn đóng theo kiểu phương Tây là Phấn Bằng, Thụy Long và Linh Phượng. Các thuyền này đi công vụ tới Bột Nê (Borneo), Giang Lưu Ba (Jakarta) và Hạ Châu (Malaysia). Vua cho Thị vệ Lê Văn Nguyên theo thuyền tới Giang Lưu Ba để học về máy móc.
Vietnamese translation
Lúc bấy giờ Jakarta do chính quyền thực dân Hà Lan cai quản, là trung tâm buôn bán và tri thức quan trọng. Kỹ thuật mới từ phương Tây theo đường này vào Đông Nam Á. Không còn tư liệu về chuyến “du học” ngắn ngày của Lê Văn Nguyên. Nhưng những việc anh làm sau khi về cho thấy anh đã học được ở đó cách vận hành những cỗ máy rất hữu ích cho sản xuất ở quê nhà.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Một kiểu “thủy xa”, tức máy bơm nước đạp chân ở châu Á, người Việt đã dùng từ lâu trước thời Lê Văn Nguyên. Ảnh: mô hình 3D của Đông Nguyễn.
Vietnamese translation
Tháng 5 năm sau, tức tháng 5 năm 1838, Lê Văn Nguyên đã về nước. Anh đem tài khéo tay và kiến thức về kỹ thuật phương Tây học được ở Jakarta ra ứng dụng. Vừa để đền ơn vua, vừa giúp dân lúc khó khăn.
Vietnamese translation
Sách Đại Nam thực lục chính biên, quyển 193, cho biết tình hình khi ấy rất ngặt nghèo:
Vietnamese translation
Suốt nhiều tuần trong tháng 5, kinh đô gần như không có mưa. Vua sai quan Bộ Binh là Phan Bá Đạt đến miếu Long vương Nam Hải cầu mưa, nhưng không linh nghiệm. Vua lại cử thêm người: quan Bộ Lại Tôn Thất Bạch đến miếu Thành hoàng, quan Bộ Binh Đào Trí Phú đến đàn Nhật, cùng các quan ở Đô sát viện đi cầu đảo.
