Die jungen Frauen und Männer und das Geheimnis der Seeminen
Những cô gái, chàng trai và bí mật thủy lôi
This reading was translated and simplified for German learners. The original content belongs to Tia Sang - Ho So Nhan Vat.
Select a word or phrase to look it up, translate it, highlight it, or add a note.
Reading progress
Paragraph 1/22
Read the German first. Reveal the translation below any paragraph when needed.
Vietnamese translation
Nhờ số liệu của những cô gái làm nhiệm vụ đếm thủy lôi, cùng với các chiến sĩ lặn tìm và tháo gỡ bom mìn, quy luật hoạt động của thủy lôi dần được làm rõ.
Vietnamese translation
Vietnamese translation
Những cô gái đếm thủy lôi
Vietnamese translation
Sau Hiệp định Paris, Mỹ phải tháo gỡ bom mìn đã rải ở các cảng của nước ta. Một đô đốc thuộc Hạm đội 7 của Mỹ đến Hải Phòng gặp tướng Hoàng Hữu Thái để bàn việc tìm kiếm và xử lý thủy lôi.
Vietnamese translation
Phía Mỹ công bố số liệu về bom mìn đã rải. Họ đã ném rất nhiều bom mìn xuống miền Bắc. Riêng cảng Hải Phòng năm 1972 cũng bị rải dày đặc thủy lôi.
Vietnamese translation
Trong buổi làm việc, hai bên cùng đưa ra con số thống kê. Phía Mỹ rất ngạc nhiên: số liệu của những cô gái đếm thủy lôi bên ta gần như trùng khớp với số liệu của họ. Điều này có được nhờ hệ thống quan sát và thống kê rất tốt. Hệ thống do Cục Vận tải đường biển, thuộc Bộ Giao thông, xây dựng, gọi tắt là "Vận tải biển". Việc tổ chức được làm vô cùng chặt chẽ.
Vietnamese translation
Trên tàu sân bay Mỹ có các chuyên gia về thủy lôi. Họ từng học ở các trường thuốc nổ tại Hawaii hoặc California. Trước khi đưa thủy lôi lên máy bay A-4 và A-6, chuyên gia kiểm tra từng quả, cài đặt thời gian và chế độ kích nổ, ghi số hiệu cùng mọi thông tin vào bộ tài liệu kèm theo. Phi đội nhận danh sách đó. Lúc thả mìn, phi công thường rất vội vì lưới lửa phòng không của ta rất mạnh. Nhưng bản đồ tác chiến vẫn ghi lại toàn bộ đường bay, vị trí thả và tính năng của từng quả mìn ở từng điểm.
Vietnamese translation
Còn lực lượng đếm thủy lôi của ta phần lớn là nữ, khoảng 20 tuổi. Họ trực tại nhiều trạm dọc bờ biển, nơi bảo đảm an toàn hàng hải. Khi máy bay Mỹ tới, họ đã có mặt. Họ quan sát rất kỹ và nhận diện từng quả mìn.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Những cô gái đếm thủy lôi.
Vietnamese translation
Bức ảnh ghi lại công việc tại trạm Miếu Mẫu, thôn Hoàng Châu, Cát Hải, Hải Phòng: chị Kim đứng bên la bàn lặng, chị Huê cầm ống nhòm, chị Vay ghi chép. Trên đầu vẫn vang tiếng gầm của máy bay.
Vietnamese translation
Dùng chiếc la bàn lặng do Xưởng Bảo đảm hàng hải chế tạo, chị Kim xác định vị trí, tức tọa độ nơi bom rơi. Chị Huê đếm số lượng thủy lôi, chị Vay ghi lại toàn bộ. Trạm tổng hợp số liệu và vẽ lên bản đồ khu vực. Sau đó dữ liệu từ các trạm được tập hợp lại để Cục và cơ quan chỉ huy quân sự lập báo cáo chung.
Vietnamese translation
Có một tấm bản đồ mang tên "Báo cáo chống thủy lôi vùng biển Quân khu 4". Bản đồ làm tại Cửa Hội năm 1967, do ông Bùi Vỵ ký. Nhìn vào thấy công việc được thực hiện rất chính xác và tỉ mỉ. Dù chỉ dùng vài màu, người làm đã thể hiện rõ ràng nội dung. Trong danh sách những cô gái đếm thủy lôi ở Cửa Hội có Hoàng Thị Toàn và Nguyễn Thị Bội. Chị Đào Thị Minh và chồng theo dõi thủy lôi, bom mìn tại trạm H2 ở vịnh Hạ Long. Cùng làm ở đó còn có Phạm Thị Thu, Nguyễn Thị Bàn, chị Hải, chị Ngùn và nhiều người khác. Phụ trách trạm là ông Soái.
Vietnamese translation
Họ là những người may mắn sống sót qua chiến tranh. Nhưng nhiều cô gái đã hy sinh. Chị Đỗ Thị May hy sinh năm 20 tuổi, cùng hai chị Vay và Voi trên đường ra trạm. Nhiều người khác mất trong trận bom Mỹ đánh cảng Bến Thủy năm 1968.
Vietnamese translation
Không ít cô gái đã dành trọn tuổi thanh xuân cho chiến tranh. Đến khi hòa bình lập lại, cả nước sum vầy trong yên vui, tuổi trẻ của họ đã qua. Nhiều người không còn cơ hội lập gia đình.
Vietnamese translation
Chữ ký của con tàu
Vietnamese translation
Nhờ số liệu của những cô gái đếm thủy lôi và nhờ các chiến sĩ lặn tìm, tháo gỡ mìn, quy luật của thủy lôi ngày càng sáng tỏ. Mỗi quả mìn được cài đặt thời gian và được chỉnh theo cái gọi là "chữ ký của con tàu". Thực tế chiến trường cho thấy bom từ trường hay thủy lôi từ trường đôi khi chỉ nổ với một mục tiêu nhất định.
Vietnamese translation
Con người dùng chữ ký để khẳng định mình, thì con tàu — một vật thể do con người tạo ra — trong quá trình hoạt động cũng để lại những dấu hiệu đặc trưng có thể nhận biết. Ngày nay người ta gọi chung những dấu hiệu đó là "chữ ký". Quan trọng nhất là chữ ký âm thanh, sau đó là chữ ký từ tính. Khoa học quân sự hải quân trong chiến tranh hiện đại phải nắm rất vững những chữ ký này.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Chữ ký từ tính của con tàu.
Vietnamese translation
Phần lớn bom mìn Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam hoạt động theo chữ ký từ tính. Vì vậy, từ năm 1967, những người làm kỹ thuật chống phong tỏa thường xuyên nhắc đến các khái niệm của điện từ học như từ trường, từ thông, cảm ứng từ, khử từ. Họ cũng hay nói tới các đơn vị như ampe, vôn và mili-oersted. Ở các trường đại học, ai cũng tìm đọc cuốn Vật lý lý thuyết của hai nhà khoa học Liên Xô Landau L.D. và Lifshitz E.M. trong những năm đó.
Vietnamese translation
Từ trường của tàu tăng dần từ mũi tàu. Mạnh nhất là ở những nơi tập trung nhiều sắt thép như boong trên và buồng máy. Đến đuôi tàu thì từ trường kết thúc. Để đánh tàu, ngòi nổ thủy lôi được lập trình nhận diện đúng chữ ký này rồi mới phát nổ. Vì thế thiết bị rà phá phải tạo ra xung từ tính tương tự. Nói cách khác, phải tạo một "con tàu từ tính giả" để kích cho mìn nổ và phá hủy nó. Với quyết tâm cao, nhiều thiết bị tạo xung từ đã được chế tạo. Ngoài các khung dây dùng pin, còn có HDL-9, viết tắt của Hải quân Diệt Lôi.
