Vietnamesische Schwerter: scharf, schön und sehr alt
Gươm Việt: sắc bén, tinh xảo và có lịch sử rất lâu đời
This reading was translated and simplified for German learners. The original content belongs to Tia Sang - Ho So Nhan Vat.
Select a word or phrase to look it up, translate it, highlight it, or add a note.
Reading progress
Paragraph 1/20
Read the German first. Reveal the translation below any paragraph when needed.
Vietnamese translation
Nhiều người vẫn nghĩ vũ khí cổ của Việt Nam chỉ là những lưỡi dao đơn sơ. Họ cho rằng đó chẳng qua là nông cụ được mài lại để dùng làm vũ khí. Ít ai biết gươm Việt từng có mặt trong bộ sưu tập của nhiều quý tộc lớn ở châu Âu.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Phục dựng một cây đao sắt thời Đông Sơn tại Bảo tàng Phạm Huy Thông ở Hòa Bình. Nguồn: Phim trường số Việt Nam
Vietnamese translation
Nhắc đến vũ khí truyền thống châu Á, đa số nghĩ ngay đến katana của Nhật. Katana không chỉ là một lưỡi gươm. Nó đã thành biểu tượng văn hóa toàn cầu, xuất hiện khắp nơi từ phim ảnh, game, truyện tranh cho tới bảo tàng. Những câu chuyện về luyện thép, về đường vân trên lưỡi và tinh thần samurai đã đưa katana thành thước đo cho nghệ thuật chế tác vũ khí ở châu Á.
Vietnamese translation
Ngược lại, gươm và đao Việt gần như vô hình. Nhiều người tưởng vũ khí cổ Việt Nam thô kệch, ít trang trí, được làm vội từ đồ lao động. Ấn tượng này càng đậm khi vào bảo tàng ta chỉ thấy những mảnh sắt hoen gỉ, sứt mẻ, khó hình dung vẻ đẹp nguyên bản.
Vietnamese translation
Điều thú vị là cách đây vài trăm năm, một số học giả Trung Hoa lại nhìn nhận rất khác.
Vietnamese translation
Khuất Đại Quân là học giả nổi tiếng thời Thanh thế kỷ 17. Ông nhận xét về Kiếm Trường của Đại Việt: gươm rất dài, có rãnh, không có sống và tinh xảo đẹp như gươm Nhật. Thái Đình Lan cũng là người thời Thanh, đến Việt Nam vào thời vua Minh Mạng, viết: “Vũ khí cầm tay cực kỳ tinh xảo và sắc bén.”
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Hiện vật gươm, đao miền Bắc Việt Nam thế kỷ 18, 19 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Ảnh do tác giả chụp, năm 2010.
Vietnamese translation
Trường hợp Lý Tiên Căn rất đáng chú ý. Ông là sứ thần nhà Thanh sang Đại Việt thế kỷ 17, vốn có định kiến nặng nề về Việt Nam. Trong ghi chép, ông liên tục chê bai văn hóa Việt, cho rằng người Việt dốt nát, đa nghi, gian trá và kiêu ngạo. Vậy mà khi nói về vũ khí Việt Nam, ông buộc phải khen: “Vũ khí thì chuộng súng, khiên mây, giáo và đao, món nào cũng trang trí rất tinh xảo.” Lời khen trong bối cảnh đó khó có thể chỉ là xã giao.
Vietnamese translation
Gươm dài Việt Nam là loại gươm cong, chỉ sắc một bên, lưỡi dài và hẹp, phải cầm bằng hai tay. Gươm thường dài từ 120 cm đến 160 cm. Để rèn lưỡi dài như vậy, người thợ phải kiểm soát nhiệt cực kỳ chuẩn xác. Nhiệt không đều sẽ khiến chỗ cứng chỗ mềm, phá hỏng kết cấu lưỡi. Gươm càng dài càng khó lấy thăng bằng. Người thợ cần kinh nghiệm dày dặn, chỉ một lỗi nhỏ là phải bỏ cả lưỡi gươm.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Thợ rèn xưa trong sách Kỹ thuật của người An Nam
Vietnamese translation
Thực ra Việt Nam đã nắm được bí quyết luyện sắt từ rất sớm, ngay từ thời Đông Sơn.
Vietnamese translation
Nghề đúc đồng Đông Sơn quá nổi tiếng nên nhiều người lầm tưởng cư dân thời này không biết nấu quặng hay rèn sắt. Ngược lại, khảo cổ học đã tìm thấy ở nhiều di chỉ Đông Sơn vô số vũ khí, công cụ bằng sắt cùng xỉ sắt. Điều đó cho thấy nghề sắt đã song hành cùng nghề đồng.
Vietnamese translation
Tại Gò Chiền Vậy (Hoài Đức, Hà Nội, thuộc quần thể khảo cổ Vườn Chuối nổi tiếng), các nhà khảo cổ phát hiện một lưỡi cuốc sắt có niên đại 2400 năm. Đây là bằng chứng cụ thể cho kỹ thuật luyện sắt thời Đông Sơn.
Vietnamese translation
Đặc biệt quan trọng là chiếc rìu trong mộ M.37. Đó là rìu gang đúc, vẫn còn hằn rõ hai đường rãnh khuôn. Người Đông Sơn vì vậy đã biết rèn sắt ở nhiệt độ dưới điểm nóng chảy của hợp kim sắt - 1200 độ C. Bên cạnh đó, họ còn nắm công nghệ gang đúc, rót sắt lỏng vào khuôn để tạo công cụ. Từ đó có thể suy ra thợ kim khí Đông Sơn đã dựng được lò cao, nhờ cấu trúc lò và có lẽ cả ống bễ cải tiến mà đạt tới nhiệt độ nóng chảy của sắt. Tuy nhiên sản phẩm của lò cao chứa nhiều carbon (sinh thiết, tức gang), cứng nhưng giòn. Cần thêm một công đoạn trong lò khác gọi là Sao Lô (lò Chao) để khử bớt carbon bằng oxy hóa, tạo thành thép (thục thiết) mềm và dễ tạo hình hơn. Nếu nhận định của Joseph Needham là đúng - rằng công nghệ lò cao và gang đúc mãi đến cuối thời Trung cổ mới truyền tới Tây Âu - thì những phát hiện ở Đông Sơn cho thấy người Việt đã có công nghệ gang đúc sớm hơn gần 2000 năm, vào khoảng thế kỷ 5 trước Công nguyên, tương đương thời điểm xuất hiện bằng chứng về gang đúc ở Trung Quốc.
Vietnamese translation

Vietnamese translation
Hoa văn đao mác đặc trưng thời Lê Trung Hưng trang trí trên khâu đồng chắn tay của thanh gươm trong bộ sưu tập vũ khí của Đô đốc Cornelis Tromp tại Rijksmuseum ở Hà Lan. Ảnh: Peter Dekker
Vietnamese translation
Nhờ kiến thức vượt trội về sắt, văn hóa Đông Sơn đã chế tác nhiều gươm và đao lưỡi sắt còn tồn tại đến ngày nay.
