Warum wir wissen, dass es stark regnet, aber nicht, welche Straßen überflutet werden
Tại sao chúng ta biết trời mưa to nhưng không biết đường nào sẽ ngập
This reading was translated and simplified for German learners. The original content belongs to Tia Sang - Nen Tang Kien Tao.
Select a word or phrase to look it up, translate it, highlight it, or add a note.
Reading progress
Paragraph 1/27
Read the German first. Reveal the translation below any paragraph when needed.
View the full Vietnamese translation
Cùng một lượng mưa 100 mm, nhưng nếu lượng nước này rơi trong 24 giờ, hệ thống thoát nước đô thị phải xử lý một nhiệm vụ rất khác so với khi mưa chỉ kéo dài vài giờ.
Các quy định hiện hành đã có tiêu chuẩn tính toán cho hệ thống thoát nước. Chúng cũng chứa các quy tắc dự báo và cảnh báo mưa lớn và ngập lụt. Tuy nhiên, để biến thông báo "mưa lớn" thành một cảnh báo có ý nghĩa trực tiếp với người dân – chẳng hạn như "Khu vực A có thể bị ngập 30–50 cm trong hai giờ tới" – dự báo mưa phải được liên kết với dữ liệu về địa hình, mạng lưới thoát nước và các đoạn sông phía dưới. Sau đó, quá trình ngập lụt phải được mô phỏng theo không gian và thời gian.
Khoảng trống từ "dự báo mưa" đến "dự báo ngập lụt" là một trong những vấn đề cần được nhìn nhận rõ ràng hơn trong công tác phòng chống lũ đô thị hiện nay.

Mưa lớn gây ngập lụt ở Hải Phòng, ngày 9 tháng 7 năm 2026. Ảnh: Lê Tân
Khoảng trống giữa tiêu chuẩn và thực tế
Hệ thống thoát nước đô thị được thiết kế để chịu đựng chu kỳ lặp lại của một trận mưa theo tính toán. Khi mưa vượt quá lưu lượng thiết kế, hệ thống thoát nước sẽ bị quá tải và xảy ra ngập lụt.
Cụ thể: đối với các trung tâm loại I và các thành phố có ý nghĩa đặc biệt, QCVN 01:2026/BXD quy định rằng chu kỳ lặp lại nhỏ nhất của mưa khiến các kênh chính bị tràn là 5 năm. Điều này có nghĩa là: trong bất kỳ năm nào, xác suất xảy ra một trận mưa như vậy là khoảng 20%. Khi mưa lớn hơn thiết kế xảy ra, chúng ta phải chuyển sang các cảnh báo, quản lý rủi ro và tổ chức ứng phó lũ lụt.
Quy định đưa ra một điều kiện thiết kế. Nhưng điều kiện này được xác định từ dữ liệu mưa nào? Và chúng có còn phản ánh đúng thực tế hiện nay không?
TCVN 7957:2023 đã bổ sung hệ số K để tính đến các biến đổi khí hậu trong tương lai. Tuy nhiên, các hằng số khí hậu trong công thức tính cường độ mưa ở phụ lục tính toán cường độ mưa cho đô thị về cơ bản vẫn không thay đổi so với TCVN 7957:2008 (chỉ một số địa điểm như TP. Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Huế, Sa Pa và Bảo Lộc đã được thay đổi). Tuy nhiên, lượng mưa thực tế tại những nơi này đã thay đổi đáng kể.
Mặt khác, các thông số này vẫn là các giá trị cố định cho từng địa điểm, trong khi đặc tính mưa có thể tiếp tục thay đổi theo không gian và thời gian, thậm chí có thể khác nhau ngay trong cùng một địa điểm. Do đó, dữ liệu lượng mưa thực tế cần được cập nhật thường xuyên để xác định cường độ mưa thiết kế phù hợp. Không nên chỉ sử dụng các giá trị cố định từ một bảng tính.
Một ví dụ: Dữ liệu quan sát tại Đà Nẵng trong hơn 13 năm cho thấy có 7 trận mưa với cường độ trên 80 mm/giờ. Tuy nhiên, chuỗi dữ liệu từ giai đoạn 1979–2012 lại không có giá trị nào vượt ngưỡng này. Nếu dữ liệu được cập nhật đến năm 2025, các tính toán cho thấy lượng mưa một giờ từ 77,79 mm trở lên có xác suất xảy ra khoảng 20% trong một năm.
Ngược lại, nếu lấy các thông số từ tiêu chuẩn TCVN 7957:2023 cho Đà Nẵng và đưa vào công thức tính toán để xác định lượng mưa thiết kế cho hệ thống thoát nước, giá trị thu được khoảng 67,3 mm/giờ – thấp hơn nhiều so với thực tế. Điều này cho thấy dữ liệu lượng mưa thực tế cần được cập nhật liên tục để giải quyết kịp thời nhiệm vụ thiết kế và quản lý hệ thống thoát nước khi mưa lớn xảy ra.
Đồng thời, bên cạnh việc cập nhật lượng mưa theo thực tế, cách tính toán thủy lực cũng rất quan trọng. TCVN 7957:2023 đã có hướng dẫn tính toán thủy lực và xác định dòng chảy vào hệ thống thoát nước mưa trong hai bước: xác định sơ bộ quy mô thiết kế và sau đó kiểm tra bằng mô hình thủy lực, điều chỉnh nếu cần.
Tuy nhiên, đối với những khu vực mà khả năng thoát nước phụ thuộc vào điều kiện dòng sông phía dưới, đường kính ống phải được xác định theo điều kiện dòng chảy thực tế: dòng chảy đều, dòng chảy áp lực, dòng chảy áp lực một phần, hoặc tính toán mạng ống dưới tác động của mực nước sông, mực nước triều và nước dâng do bão, áp thấp, v.v.
Những quy định toàn diện hơn sẽ cung cấp cho các thành phố một cơ sở tính toán thống nhất, để lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng loại ống, từng hệ thống thoát nước và điều kiện thực tế của khu vực.
Khoảng trống giữa dự báo mưa và ngập lụt đô thị
Theo Quyết định 18/2021/QĐ-TTg, mức độ rủi ro do mưa lớn được xác định chủ yếu dựa trên lượng mưa trong 12, 24 và 48 giờ. Tuy nhiên, ngập lụt đô thị phụ thuộc nhiều vào cường độ mưa ngắn hạn (1 đến 3 giờ), sự phân bố không gian của mưa, khả năng vận hành của hệ thống thoát nước, trạm bơm, địa hình và mực nước phía dưới. Do đó, các cảnh báo với khoảng thời gian dài như vậy không đủ để hỗ trợ trực tiếp dự báo ngập lụt đô thị và ứng phó.
Mặt khác, các lớp thông tin về lượng mưa và khả năng vận hành của hệ thống thoát nước chưa được kết hợp thành dự báo ngập lụt đô thị cụ thể, hữu ích, hấp dẫn đối với người dân và người quản lý. Do đó, dự báo mưa 24–48 giờ không tự động cho biết những khu vực nào sẽ bị ngập, ngập sâu bao lâu và trong bao lâu.
Chúng tôi cho rằng, dự báo mưa ngắn hạn cần được bổ sung với các bước thời gian nhỏ hơn và độ phân giải cao hơn. Ngoài ra, bản đồ nguy cơ và rủi ro ngập lụt cần được xây dựng để kết hợp với dự báo mưa, xác định khu vực, độ sâu và thời gian ngập lụt.
Dựa trên đó, các tỉnh và thành phố của Việt Nam cần từng bước xây dựng một chuỗi: Dự báo mưa ngắn hạn → Dự báo ngập lụt đô thị → Bản đồ ngập lụt/rủi ro → Cảnh báo → Kế hoạch ứng phó.
Hướng tới bản đồ ngập lụt thời gian thực
Cần có đủ công cụ để ứng phó ngập lụt và xác định rõ trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân thực hiện. Cảnh báo sớm phải được liên kết với bản đồ nguy cơ và rủi ro ngập lụt của thành phố. Bản đồ này hiển thị các khu vực có nguy cơ ngập, diện tích, độ sâu dự kiến và thời gian ngập lụt, để các cơ quan chức năng và người dân có thể chủ động ứng phó.
Về cơ bản, nếu mưa nhỏ hơn hoặc bằng thiết kế, hệ thống thoát nước phải đảm bảo khả năng quy định. Các khu vực chưa đáp ứng điều này cần có kế hoạch và lộ trình khắc phục cụ thể.
Khi mưa vượt quá điều kiện thiết kế, cần có bản đồ rủi ro ngập lụt đô thị theo các kịch bản mưa khác nhau và các kế hoạch ứng phó phù hợp.
Hiện nay, Sở Xây dựng Hải Phòng...
